Xem Nhiều 7/2024 # Đạo Đức Làm Giàu Ở Việt Nam Thời Pháp Thuộc # Top 1 Yêu Thích

Tác giả bài viết: LÝ TÙNG HIẾU

Trên bình diện khái niệm, đạo đức có nghĩa là ” những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nói tổng quát)“, và cũng có nghĩa là ” phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có ” [hoàng phê CB, 1998]. Còn làm giàu là một bộ phận của văn hoá mưu sinh và phụ thuộc vào ý thức hệ của chủ thể làm giàu. Vậy, bàn về đạo đức làm giàu không thể thoát ly khỏi bối cảnh văn hóa muu sinh và ý thức hệ của các chủ thể làm giàu; đồng thời cũng cần phải hướng tới mục đích xây dựng những tiêu chuẩn, nguyên tắc quy định hành vi, quan hệ của các chủ thể làm giàu đối với nhau và đối với cộng đồng.

Văn hóa mưu sinh và những chủ thể làm giàu thời Pháp thuộc

Thời kỳ thuộc địa bán phong kiến của đất nước ta mở đầu với sự kiện triều đình Huế ký kết Hòa ước Quý Mùi (1883) trao chủ quyền quốc gia cho Pháp, và kết thúc với Cách mạng tháng Tám (1945). Trong thời kỳ này, nền kinh tế của Việt Nam chuyến đổi mạnh về cơ cấu để trở thành vùng cung cấp nguyên nhiên liệu và thị truờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của nước Pháp.

Trên địa bàn Bắc bộ, thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản Pháp tiến hành xây dựng các cơ sở công nghiệp khai khoáng và năng lượng (than đá, sắt, đồng, thiếc, nhiệt điện…), công nghiệp nhẹ (dệt, rượu bia…). Trên địa bàn Trung bộ, tư bản Pháp và người Việt xúc tiến khai thác các nguồn lợi biển (đánh bắt thủy sản, làm nước mắm, dịch vụ du lịch, vận tải biển). Đây là thơi kỳ dịch vụ du lịch biển được hình thành, khai thác các thắng cảnh biển sẵn có, từ Đồ Sơn ở Bắc bộ đến Nha Trang ở Trung bộ và Vũng Tàu ở Nam bộ. Trên địa bàn Nam bộ, chính quyền Pháp khuyến khích các tầng lớp quan lại tay sai, địa chủ, thực dân bao chiếm ruộng đất, đẩy mạnh nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá sẵn có, biến Nam bộ thành vùng sản xuất lúa dành cho xuất cảng, mà toàn bộ đầu ra nằm trong tay tư bản Pháp và tư bản Hoa kiều. Trên địa bàn Tây Nguyên và Đông Nam bộ, thực dân Pháp thúc đẩy hình thành các vùng trồng cây công nghiệp lớn như cà phê (Đắk Lắk), trà (Đồng Nai Thượng), cao su, cây ăn trái (Đông Nam bộ)… Cùng với sự hình thành một số ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại là sự ra đời mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, bưu chính…, kết nối các vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ với các đầu cầu xuất nhập cảng như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn.

Tuy nhiên, nhìn trên toàn cục, trong thơi kỳ này kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ đạo. Thủ công nghiệp yếu ớt, suy tàn trước sự xâm nhập của công nghiệp tư bản Pháp và hàng hóa nhập cảng. Kinh tế thương nghiệp lối cũ dựa trên sự luân chuyển hàng hóa giữa các làng nghề miền xuôi, các buôn bán miền núi, các thành thị và cảng thị, bị thất thế do sự phát triển kinh doanh của tư sản người Pháp, người Hoa và sự hình thành các trung tâm đô thị mới. Kinh tế công nghiệp, chủ yếu là khai khoáng và chế biến, và kinh tế thương nghiệp theo lối mới ra đời, tất cả đều nằm trong tay tư bản Pháp và tư bản Hoa kiều. Và do trọng tâm đầu tư, khai thác của thực dân ở các vùng miền rất khác nhau, nên cấu trúc văn hoá mưu sinh trong thoi kỳ này cũng khác nhau giữa các vùng miền: ở Bắc bộ – Bắc Trung bộ, là nông nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ; ở Trung và Nam Trung bộ là ngư nghiệp – nông nghiệp – lâm nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp; ở Nam bộ là nông nghiệp – ngư nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ. Tuy nhiên, nông nghiệp – ngư nghiệp – công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp – dịch vụ là cơ cấu nghề nghiệp tương đối phổ biến, có thể xem là cấu trúc văn hóa mưu sinh tiêu biểu của người Việt trong thời kỳ thuộc địa bán phong kiến.

Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh ấy, do sưu cao thuế nặng, các tầng lớp nông dân, ngư dân, diêm dân, công nhân, thợ thủ công, tiểu chủ, tiểu thương, viên chức cấp thấp, chỉ có thể có mức sống từ nghèo túng đến đủ ăn đủ mặc, chứ khó có thể ngôi lên làm giàu. Trong cấu trúc ấy, các chủ thể làm giàu chính là những tầng lớp không trực tiếp sản xuất của cải vật chất nhưng hưởng lợi từ việc sản xuất của các tầng lớp lao động chân tay: địa chủ, tư sản công thương (Pháp, Hoa), quan lại tay sai. Do các tầng lớp giàu có trong thời kỳ này đều dây máu ăn phần với chế độ thực dân bán phong kiến, nên đạo đức làm giàu của họ dĩ nhiên tồi tệ, và không cần phải nói nhiều về sự căm ghét tự nhiên của nhân dân bị trị đối với các tầng lớp ấy.

Chỉ có một tầng lớp làm giàu mới mà những người Việt Nam yêu nước có cảm tình và đặt nhiều hy vọng, đó là giới tư sản công thương người Việt. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền công thương nghiệp hiện đại của nước nhà cồn rất sơ khai và tập trung trong tay tư bản Pháp, Hoa, giới tư sản công thương người Việt chỉ mới manh nha, non yếu cả về số lượng và thực lực. Không chỉ non yếu về vị thế kinh tế, doanh nhân người Việt trong buổi giao thời cồn yếu thế cả về chính trị: là dân thuộc địa vong quốc (ở thuộc địa Nam kỳ và các thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng), là dân bảo hộ một cố hai tròng (ở Trung Bắc lưỡng kỳ), không được chế độ thực dân tin tưởng và khuyến khích phát triển.

Chuyển đổi ý thức hệ và đạo đức làm giàu

Thêm vào đó, vào đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân – Đông Du (1905-1908), phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-1908), phong trào Minh Tân (1907-1908) đã tưng bùng phát động tư tưởng yêu nước và duy tân trong các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, xã hội, và kinh tế. Trong đó, đi đầu về phát động tư tưởng yêu nước và duy tân kinh tế là Đông Kinh Nghĩa Thục. Thực hiện chủ trương đó, Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa Thục đã biên soạn sách Quốc dân độc bản (1907) bao gồm trong đó hàng chục đề mục nói về kinh tế, kinh doanh, và phổ biến bài “Họp quần doanh sinh thuyết” (1907) của Nguyễn Thượng Hiền dưới hình thức song thất lục bát Quốc ngữ để trình bày chủ trương kinh tế theo hướng Duy Tân: kêu gọi quốc dân chấn hưng thực nghiệp, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ… Bên cạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, Đông Kinh Nghĩa Thục còn khuyến khích các hội viên xúc tiến hàng loạt hoạt động kinh doanh, vừa để cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông Du, vừa thực hành tư tưởng chấn hưng thực nghiệp. Tại Hà Nội, Đỗ Cơ Quang cùng các đồng chí mở hiệu buôn Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây chuyên bán hàng nội hóa, rồi cùng Vũ Hoành tổ chức hiệu thuốc Bắc Tụy Phương ở gần ga Hàng Cỏ. Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Quyền lập Công ty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai, vừa bán tạp hóa vừa làm công nghệ như dệt xuyến hoa đại đóa, ướp trà, rồi lại lập Quảng Nam Hiệp thương Công ty. Nguyễn Quyền lập hiệu Hồng Tân Hưng ở Hàng Bồ buôn bán và, làm đồ sơn. Hưởng ứng phong trào, tại Hà Nội, các hội viên hoặc những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng Duy Tân còn lập Công ty Nghiêm Xuân Quảng buôn bán the lụa Thái Bình, Công ty Đông Ích dệt và xuất khẩu lụa, hiệu buôn Nam Đồng Hương, hiệu Cát Thành (ở Hàng Gai).

Ở các tỉnh Trung Bắc lưỡng kỳ, phong trào lập hội kinh doanh cũng lan nhanh, ở Thái Bình, Nguyễn Hữu Cương tham gia xây dựng các trường Duy Tân ở phủ Kiến Xương, và mở một số hội buôn ở các phủ huyện như Đông Quan, Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải. Nguyễn Tùng Hương mở hiệu buôn Phúc Lợi Tế ở Phúc Yên và hiệu Hưng Lợi Tế ở Hưng Yên, bán đủ các thứ tạp hoá nội ngoại. Nguyễn Trác mở hiệu buôn Sơn Thọ ở Việt Trì. Ở Thanh Hóa, Công ty Phương Lâu thành lập từ năm 1885, chuyên buôn tơ lụa, do ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục đã mở rộng kinh doanh, lập thêm chi nhánh ở Vinh, Hà Tĩnh và Huế. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế tổ chức Triêu Dương Thương Quán ở Vinh, khuấy động phong trào Duy Tân – Đông Du ở vùng Nghệ Tĩnh. Ở Phan Thiết, Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh lập Liên Thành Thương Quán,…

Ở Nam kỳ, Trần Chánh Chiếu, lãnh tụ phong trào Minh Tân, công khai hô hào quốc dân duy tân cứu nước trên tơ Lục Tỉnh Tân Văn (11/1907-11/1908) do ông làm chủ bút; đồng thời thành lập hội Minh Tân và một loạt cơ sở kinh tài ở Nam kỳ như Nam Trung Khách Sạn ở Sài Gòn, Minh Tân Khách Sạn và Công ty Nam kỳ Minh Tân Công Nghệ ở Mỹ Tho… để tán trợ phong trào Duy Tân – Đông Du [Lý Tùng Hiếu, 2005].

Các hoạt động giáo dục, tuyên truyền của phong trào Duy Tân – Đông Du và các hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng của phong trào này, tuy chưa cải thiện được thân phận của giới tư sản công thương người Việt, nhưng đã giúp canh tân não trạng của người Việt đối với vấn đề kinh doanh, thương mại. Theo quan niệm phổ biến của thời kỳ phong kiến, doanh thương là phương tiện lợi mình hại người của “bọn lái buôn”. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, doanh thương đã được nâng lên thành một phương thức tự tồn, tự cương mới của dân tộc Việt Nam, kết hợp trong nó truyền thống văn hoá của dân tộc với kỹ thuật kinh doanh tân tiến của thế giới.

Trong quá trình đổi mới nhãn quan đối với kinh doanh và đạo đức làm giàu ở thòi kỳ này, cần phải nói đến công lao của Lương Văn Can, một trong những người tiên phong phát động phong trào chấn hưng thực nghiệp, tham gia khởi xướng và kiên trì theo đuổi chủ thuyết Duy Tân trong kinh tế, kinh doanh. Đây có thể xem là chủ thuyết kinh tế đầu tiên của Việt Nam mà trong đó, kinh doanh công thương nghiệp đã được đề cao và được định hướng rõ ràng nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, vừa vực dậy nền kinh tế kiệt quệ và què quặt vì chiến tranh xâm lược và chính sách vơ vét của thực dân, vừa xây dựng nội lực kinh tế cho cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ. Chủ thuyết ấy được thể hiện tập trung trong hai tác phẩm mà Lương Văn Can biên soạn trong những năm tháng lưu đày ở Nam Vang và xuất bản sau khi cụ trở về Hà Nội năm 1921: Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn.

Nội dung của Thương học phương châm là bàn về vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế đất nước, về những nguyên nhân và hướng khắc phục tình trạng thương mại yếu kém ở nước ta. Theo Lương Văn Can, ” đương buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài thi sức ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ, buôn bán càng thịnh đạt“. Trong khi đó, ở nước ta nghề buôn bán vẫn chưa được mở mang mà nguyên nhân là vì nước ta chưa có thương phẩm, thương hội, thương học, và người nước ta ít có chí làm thực nghiệp, lại thiếu những đức tính và kỹ năng cần thiết đế có thế tiến xa trên “trường thương chiến”. Để khắc phục tình trạng đó, mọi người cần chú trọng đến thực nghiệp, tức là những nghề nghiệp mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống con người như công – nông – thương nghiệp, đồng thời phải lưu tâm nghiên cứu thương học, tức là khoa học về thương mại. Như vậy thì mới có thể phát triển nghề buôn. Và nghề buôn phát triển thì mới đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì trong tời đại bây giờ, chính ” các đại quốc do thông thương mà làm được phú cương, các nhà đại tư bản do kinh thương mà phú gia địch quốc “.

Trong Kim cổ cách ngôn, Lương Văn Can lại đề cập vấn đề từ một góc độ mà ngày nay thường gọi là đạo đức kinh doanh, văn hoá kinh doanh. Vừa vận dụng kinh nghiệm bản thân, vừa huy động truyền thông văn hóa dân tộc, Lương Văn Can đã đưa ra lời khuyên cho giới kinh doanh, đặc biệt là những người quen dùng thủ đoạn kinh doanh gian xảo, lợi mình hại nguời, gây tiếng xấu cho cả giới thương nhân trong lịch sử. Theo cụ, kinh doanh vốn không mâu thuẫn với đạo đức, người kinh doanh thành đạt vẫn có thể giữ được sự trung thực và tâm đức. Thậm chí, bằng tất cả sự trải nghiệm của mình, cụ còn khắng định: “Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giớ vì lợi mà làm điều xằng bậy hoặc phiêu lưu mạo hiểm. Giả dụ như người tích trữ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa ích kỷ, độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên mua thừa bán thiếu, làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham không cùng mà thôi. Xét kỹ ra, người ta giàu nghèo là ở tâm đức, ở lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đây cũng là phép thuật kinh doanh vậy! Kìa xem những người bụng dạ khắc bạc, trong kinh doanh chỉ chăm chắm lợi mình, hại người, nguồn lợi trước mắt thu về nhiều đấy, vậy mà tương lai con cháu mạt vận. Cũng là bởi đạo trời ban phúc cho người thiện, trừng phạt kẻ gian tà. Vậy nên nhà kinh doanh phải lấy điều đó mà xem xét mình”. Nói như ngôn ngữ ngày nay thì nhà kinh doanh cần phải có đạo đức, có lòng nhân hậu, không nên để cho sự tham lam, sự thiến cận lấn át đạo đức, lương tri.

Kim cổ cách ngôn như vậy có thể nói là một sự bổ sung cho cuốn Thương học phương châm để thành một bộ sách giáo khoa hoàn chỉnh cho những người muốn học nghề kinh doanh, thương mại. Theo những ý tưởng chủ đạo của hai tác phẩm này, kinh doanh làm giàu phải gắn liền với lợi ích dân tộc, lợi ích toàn xã hội. Việc làm giàu phải có tâm, có đức, có đạo. Trong bối cảnh hụt hẫng ý thức hệ những thập niên đầu thế kỷ XX, hai tác phẩm này giống như cánh én báo hiệu mùa xuân, đánh dấu sự ra đời của một tầm nhìn mới, một kiến thức mới, một phương pháp mới đối vói lĩnh vực kinh doanh – thương mại của doanh nhân và trí thức Việt Nam. Với hai tác phẩm này, Lương Văn Can đã trở thành cột mốc khơi nguồn trong lịch sử kinh doanh hiện đại của Việt Nam, vì mặc dù trước đó đã có một vài tài liệu học tập tuyên truyền có nội dung kêu gọi chấn hưng thực nghiệp do các chí sĩ Duy Tân biên soạn, nhưng chưa có ai đi xa hơn Lương Văn Can trong việc mổ xẻ đến tận cùng các căn bệnh cố hữu của nền kinh tế và của giới doanh nhân trong nước, đưa ra các đơn thuốc nhằm hiện đại hóa việc kinh doanh và lành mạnh hóa thương giới nước nhà. Trong lịch sử kinh tế học Việt Nam, hai tập sách này có một vị trí rất đặc biệt, không chỉ vào lúc nó ra đời mà cả về sau, vì cho đến vài ba thập niên sau đó, sách biên khảo về kinh tế, kinh doanh của người Việt Nam vẫn còn là của hiếm. Theo đánh giá của nhà sử học Dương Trung Quốc, Kim cổ cách ngôn là “một thứ sách giáo khoa bàn về cách làm giàu và bàn về của cải để mong tìm ra một cái ‘đạo làm giàu’ của người Việt Nam mà không bị cuốn vào cnn lốc làm giàu của xã hội thuộc địa” [Dương Trung Quốc, 20011; còn Thương học phương châm “cũng lại có thể coi là cuốn sách giáo khoa về thương mại”, và với tác phẩm này, “cụ cử Can xứng đáng là người đầu tiên gây dựng và truyền bá ‘đạo làm giàu”‘, mở ra truyền thống “làm ăn”, kinh doanh cho doanh nhân Việt Nam [Dương Trung Quốc, 2004].

Những năm hai cuốn sách trên ra đời cũng là giai đoạn thực dân Pháp tiến hành kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ 2. Như một sự tiếp nối phong trào chấn hung thực nghiệp và tư tương duy tân trong lĩnh vực kinh doanh, những năm 1916-1921, Lương Văn Can đã cùng con gái là Lương Thị Trí, con dâu là Nguyễn Thị Hồng Đính lập ra ba hiệu buôn ở Nam Vang và hình thành đường dây buôn bán giữa Hà Nội, Sài Gòn với Nam Vang – một thứ “công ty xuất nhập khẩu” đầu tiên trong lịch sử của thương nhân người Việt. Năm 1917, Liên Thành Thương Quán được đổi thành Công ty cổ phần hữu hạn và nơi trụ sở chính từ Phan Thiết vào Chợ Lớn. Tiếp sau đó, từ năm 1919 đến Cách mạng tháng Tám, lần lượt nổi lên một số nhà tư sản dân tộc như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà… Hoạt động kinh doanh của họ được hỗ trợ bởi một số phong trào yêu nước như phong trào tẩy chay Cắc Chú, phong trào dùng hàng nội hoá. Một số người trong số họ đã có những đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Như vậy có thể thấy, đạo đức làm giàu trong thời kỳ thuộc địa bán phong kiến cũng là một nghịch lý lớn. Do ý thức hệ phong kiến đã lụi tàn, ý thức hệ tư sản mới phôi thai, đạo đức làm giàu trong thời kỳ này phải đứng hai chân: một chân là giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam, một chân là văn hóa kinh doanh tiếp biến từ văn hóa phương Tây. Sự kết hợp đó không phải là ngẫu nhiên, tự phát mà có chủ trương hẳn hoi, khởi đầu từ chủ thuyết Duy Tân trong kinh doanh và phát triển với tư tưởng của Lương Văn Can về đạo đức làm giàu của thương nhân. Đôi với địa chủ, tư sản công thương (Pháp, Hoa), quan lại tay sai là những tầng lớp đè đầu cưỡi cổ nhân dân, chẳng ai hoài công bàn đến “đạo đức làm giàu” của họ. Đối với tư sản công thương người Việt, theo Lương Văn Can, nội dung của đạo đức làm giàu chủ yếu là lòng yêu nước, có ý thức về thân phận vong quốc, có tư tưởng duy tân, ý chí tự cường, có chí làm thực nghiệp, lưu tâm nghiên cứu thương học, trung thực, ngay thẳng, tâm đức, khoan hậu. Đối chiếu với những tiêu chuẩn đạo đức làm giàu của thời kỳ tự chủ trước đó như chuyên cần, tiết kiệm, gan dạ, tham lam vừa phải, chúng ta thấy có sự đổi mới rõ rệt về tiêu chuẩn đạo đức làm giàu trong bối cảnh đất nước tụt hậu, mất chủ quyền. Trên thực tế, những tiêu chuẩn đạo đức làm giàu này đã được một số doanh nhân đương thời theo đuổi, không hẳn vì họ đọc sách của Lương Văn Can, mà vì sự tác động của những hoàn cảnh khách quan khiến cho họ không thể hoặc không muốn làm giàu theo cách bán mình cho chế độ thực dân.

Kết luận

Bối cảnh hoạt động của các chủ thế làm giàu ở Việt Nam trong lịch sử rất khác nhau. Thời tự chủ, các chủ thể làm giàu sống trong bầu khí quyển thuấm nhuần luân lý của Nho giáo. Thời Pháp thuộc, các chủ thể làm giàu sống trong bầu khí quyển duy tân tự cường để cứa nước giúp dân.

Ngày nay, các chủ thể làm giàu như doanh nhân nước ngoài, doanh nhân Việt Nam, cán bộ chức quyền, và những chủ thể làm giàu tiềm năng như tiểu chủ, tiểu thương, nông dân giỏi, ngư dân giỏi…, không sống trong những bầu không khí như vậy mà trong một “chiến trường”, ở đó chân lý thuộc về kẻ mạnh, lẽ phải thuộc về người chiến thắng. Do đó, họ cần phải huy động mọi phương tiện thủ đoạn dù tốt dù xấu, miễn đạt được thành công. Vì vậy, các tiêu chuẩn đạo đức làm giàu tuy cũng có nhưng chưa hoàn chỉnh và chưa hiệu quả. Những bức tường để ngăn chặn các doanh nhân Việt Nam và cán bộ chức quyền làm điều xấu bao gồm lương tri – lương tâm, dư luận xã hội và luật pháp đều chưa đủ vững, chưa đủ tầm cao, nhất là khi người kinh doanh có thể dễ dàng nhảy thót hoặc đi vòng qua những bức tường ấy với sự giúp sức, đưa đường dẫn lối của các cán bộ chức quyền. Vì vậy, nên chăng xây dựng lại từ đầu đạo đức làm giàu cho doanh giới Việt Nam? Nếu như vậy thì theo chúng tôi, lực lượng thiết kế và thi công ngôi nhà đạo đức ấy trước hết là bản thân doanh nhân, doanh giới, chứ không thể là một lực lượng nào khác, làm giúp cho họ và đem tặng họ. Nếu họ quyết tâm làm thì điều đó hoàn toàn không khó. Vì thông tin, tri thức về văn hoá kinh doanh, đạo đức kinh doanh ngày nay rất dễ tìm. Và trong số những thông tin, tri thức ấy, họ có thể đọc lại lịch sử để xem xét một số giá trị đạo đức làm giàu của doanh nhân Việt Nam mà nhà cách mạng Duy Tân Lương Văn Can đã đề ra: lòng yêu nước, có tư tưởng đổi mới, ý chí tự cường, có chí làm thực nghiệp, lưu tâm nghiên cứu thương học, trung thực, ngay thẳng, khoan hậu, có tâm, có đức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lý Tùng Hiếu (2005), Lương Văn Can và phong trào Duy Tân – Đông Du HCM, Nxb. Văn Hóa Sài Gòn.

2. Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hóa và hế thống văn hóa”, Tạp chí Khoa học Văn hóa và Du lịch, ISSN: 1859- 3720, SỐ7(61), 11/2012.

3. Hoàng Phê chủ biên (1998), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội – Đà Nẵng, Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học.

4. Duơng Trung Quốc (2001), “Đạo làm giàu của doanh nhân”, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, số 32, 19-4-2001.

5. Dương Trung Quốc (2004), “Soi lại tấm gương xua”, Báo Tiền phong, số 205, 13-10-2004.

6. Dương Trung Quốc (2008), “Gây dựng ‘đạo làm giàu'”, www.chungta.com, chúng tôi ,3-10-2008.

7. Hồ Chí Minh (2002), Hồ Chí Minh toàn tập,tập I, Hà Nội, Nxb. Chính Trị Quốc Gia.

Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay, số 452, tháng 10,