Xem Nhiều 4/2024 # Bốn Danh Hề “Tứ Quái Sài Gòn “ # Top 1 Yêu Thích

Thẩm Thúy Hằng

Làm hài để khán giả cười không phải dễ, cười rồi làm sao để họ nhớ lại càng khó hơn, ngoài cái duyên cũng cần phải có bí quyết nghề nghiệp. Xin được lấy lời của quái kiệt Tùng Lâm nói về nghề diễn hài thay cho lời kết “như hoa mai muốn nở đúng mùa thì người trồng mai phải biết chăm sóc, diễn hài muốn trong tích tắc khán giả cười vui như tết thì phải biết cách khai thác chi tiết. Quên đi yếu tố này, anh hề sẽ chỉ là một thợ diễn mà thôi”.

Bộ phim Nhà tôi phóng tác từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Duyên Anh – Vũ Mộng Long, do hãng Lidac Films (của ông Phạm Hoàng Kim) sản xuất. Phim màu Scope 35mm, màn ảnh rộng, dài 90 phút, quy tụ nhiều nghệ sĩ đang ăn khách như La Thoại Tân, Túy Hồng, Mai Lệ Huyền, Hà Huyền Chi, Kim Cúc, Thanh Việt, Phi Thoàn, Khả Năng, Hoàng Mai, Thanh Hoài, Bé Bự… Đoàn làm phim Nhà tôi ra mắt năm 1972.

Trước kia, khi nhắc đến cải lương và nhứt là bài ca vọng cổ, người ta thường nhớ biết đến vua vọng cổ Út Trà Ôn, còn về ca kịch, đóng phim thì phải biết ngay : Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng, Kim Cương, Túy Hoa …và đặc biệt Bà Bảy Nam.

Danh hài La Thoại Tân, có mã đẹp trai, thân hình cân đối, lại diễn xuất có duyên, cho nên được các bầu gánh hay chương trình Tiếu Vương Hội và đài phát thanh lúc bấy giờ mời hợp tác, đặc biệt trong ban kịch Túy Hồng, góp phần cho kháng thính giả có được những nụ cười để đời.

Khi đến định cư tại miền Nam California sau Tháng Tư 1975, danh hài và tài tử minh tinh La Thoại Tân tiếp tục hoạt động văn nghệ trong cộng đồng Việt Nam, xin đơn cử Hài kịch, cải lương và đóng phim.

1/- Hài kịch : Nhạc Sĩ Bất Đắc Dĩ đóng chung với Túy Hồng, Mai Lệ Huyền, Nhật Minh, Hoàng Cầm (La Thoại Tân thủ vai Thợ máy) – Phép Trị Vợ đóng chung với Xuân Phát, Hữu Phước, Hà Mỹ Hạnh, Diễm Chi (La Thoại Tân thủ vai Tư người giúp việc ) do Trung Tâm Paris By Night Thúy Nga thực hiện DVD phát hành.

3/- Đóng phim ” Vì Em Tìm Tự Do “… tại Hoa Kỳ.

Danh hài và tài tử minh tinh màn bạc La Thoại Tân mất đi, người Việt khắp nơi mất một thiên tài, cồng hiến cho chúng ta tràng nụ cười, đem lại cho mọi nhà đầy sức sống. Bởi vì, nụ cuời là than thuốc bổ vậy.

Hề râu Thanh VIệt sanh năm 1939, ở Hốc Môn, Hề Thanh Việt có cả thảy 9 anh em cả trai lẫn gái. Người anh thứ ba của Thanh Việt, anh Ba Đồng tức là soạn giả Kinh Luân, tác giả tuồng Lấp Sông Gianh trên sân khấu Kim Thoa của ông bầu Ngô Thiên Khai và nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Tuồng Lấp Sông Gianh của soạn giả Kinh Luân tức Ba Đồng, hát khai trương bảng hiêu gánh hát Kim Thoa ngày 19 tháng 12 năm 1955 tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, bị kẻ lạ mặt liệng lựu đạn làm chết các nghệ sĩ Nguyễn Mai, Ba Cương và em vệ sĩ Phiên, soạn giả Duy Lân bị cụt chân trái, nghệ sĩ Sáu Thoàng và một số nghệ sĩ bị thương nhẹ. Soạn giả Kinh Luân sau biến cố đó cũng biến mất tên tuổi trong trường văn trận bút của Saigon hoa lệ. Hề Thanh Việt còn có em là Thanh Sơn, chuyên viên ánh sáng, Minh Phương, nhạc sĩ đàn contre – basse, Phùng Trang, tay đánh trống, sau đổi nghệ danh là hề Thanh Nam, diễn viên cải lương trên sân khấu đoàn hát Dạ Lý Hương của Bầu Xuân. Khởi đầu cuộc đời đi hát của Thanh Việt là anh theo người cha kế của anh là nghệ sĩ Tám Huê, đi hát cho các đoàn hát nhỏ ở tỉnh rồi về diễn trong Giải Trí Trường Thị Nghè, Bar Hoàng Yến. Thanh VIệt gặp nhóm Tùng Lâm Xuân Phát diễn những vở hài kịch ngắn trong Bar Hoàng Yến và Bar Lệ Liểu, Thanh Việt tham gia diễn các tiểu phẩm hài tự biên tự diễn. Thanh Việt nổi danh với vai Quảng Xị trong Ban thoại kịch Kim Cương. Lúc tôi cộng tác với đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, hát thường trực ở rạp hát Thành Xương, rạp Hưng Đạo và thỉnh thoảng hát ở rạp Quốc Thanh thì Hề Tùng Lâm mướn các rạp đó hát xuất 9 giờ sáng chúa nhựt, với chương trình Cù Lét, nghĩa là một chương trình đại nhạc hội có nhiều ca sĩ tân nhạc, một vài điệu múa và ít nhất có hai màn hài kịch, mỗi màn dài từ 30 phút đến 45 phút. Tùng Lâm nhờ Nguyễn Phương sáng tác các màn hài kịch nầy, viết cho 6 tay hể thường trực của chương trình Cù Lét, đó là Tùng Lâm, Xuân Phát, Phi Thoàn, Khả Năng, Thanh Hoài và hề râu Thanh Việt. Viết hài kịch cho 6 diễn viên hài, người nào cũng phải có chổ diễn, phải cho ” gag ” để làm nổ tung những trận cười của khán giả, dó là một chuyện không phải dễ. Tôi phải nghiên cứu khả năng chọc cười của từng diễn viên hài để có cách khai thác khác nhau. Ví dụ Hề Phi Thoàn diễu thì phải nói nhanh, nói tía lia đủ thứ chuyện, chọc cười klhán giả bằng điệu bộ lăn xăng, méo mặt, méo mày, đưa nguyên bàn tay giả làm lược để vuốt tóc… Hề Khả Năng thì diễu ” tỉnh ” nói năng chậm rải và biết nhấn mạnh ” từ ” nào để chọc cười khán giả. Hề Khả Năng to con, lớn xác nhưng có vẻ khù khờ, ngờ ngệch, phong cách đó trái với phong cách ma lanh liếng thoáng của Phi Thoàn. Tôi viết cho hai anh Phi Thoàn và Khả Năng các lớp diễu đối chọi nhau như kiểu diễu của hai danh hề Laurel và Hardy, anh hề Mập và anh hề Ốm của các phim diễu từng chiếu ở Saigon. Hai diễn viên Tùng Lâm, Xuân Phát cũng có cá tánh và sắc vóc đối chọi nhau. Tùng Lâm nhỏ con, lùn tịt, lúc nào cũng như có vẻ quạo quọ, muốn gây lộn, cái mặt vác hấc lên. Xuân Phác nhờ đôi mắt hí, anh làm ra vẽ khù khờ rất hay, lúc đối thoại thì có vẻ rất chăm chú nhưng rồi không hiểu gì hết. Xuân Phát gặp Tùng Lâm thì xum xoe, vồn vã nói chuyện nhưng không hiểu Tùng Lâm nói gì nên khiến cho Tùng Lâm thêm quạo quọ, quạo đến lố bịch. Hai tính cách của hai vai Tùng Lâm Xuân Phát trái ngược, đối chọi nhau, tạo cười cho khán giả.

Khả năng sáng tạo bất ngờ

Ngoài sân khấu, tuồng diễn đến lớp Loan( Thanh Nga) bồng con đi khám bác sĩ về. Bà Năm Sadec trong vai bà Phán Lợi, mẹ chồng đay nghiến, đòi rước thầy Pháp trị bịnh chgo cháu nội chớ không cho uống thuốc Tây. Ngọc Nuôi trong vai Bích, cô em chồng đanh đá, dẫn ông thầy pháp( Thanh Việt) vô nói :” Má, con rước ông thầy pháp ở xóm Sáu Lèo tới. Ổng nổi tiếng bắt ma, trừ tà trị bịnh hay lắm, ổng ờ núi Tà Lơn mới hạ san đó má!” Ông thầy pháp Thanh Việt, chấp tay xá xá bà Năm Sadec, rồi đưa càm vểnh râu, nhướng nhướng chân mày. Khán giả thấy bộ điệu của Thanh Việt, họ vổ tay cười râng. Bà Năm Sadec nói mở đường cho Thanh Việt :” Nè, ông thầy cứ thấp nhang khấn vái, đăng đàn gọi hồn nhập xác, cứ lấy khăn ấn nẹt nẹt vô mình của cháu nội tôi là nó hết bịnh liền. Khỏi phải vẽ bùa, đọc thần chú cho khan tiếng, nghe ông thầy!” Thanh Việt nói :” Dạ, vậy thì tôi làm gấp gấp, lãnh cachet rồi chạy chầu đám khác!” Khán giả nghe ông thấy pháp nói lãnh cachet, họ cười rộ lên. Thanh Việt biết lở lời, anh ta làm tỉnh, cầm một nắm nhang khói ngui ngút, vẻ bùa bốn phương tám hướng. Bà Năm Sadec muốn trát Thanh Việt, bước ra tiền đài hướng về khán giả như muốn phân bua :” Ông thấy pháp nói lãnh cachet là lãnh cái chi ca? Phải hỏi ổng mới được.” Bà Năm vô, đứng gần Pháp sư : Ông thầy, ông nói lãnh cachet là lãnh cái chi, hả?” Thanh Việt chưa biết trả liời sao, nhân thấy bà Năm Sadec bước tới gần mình, bèn nẩy sáng kiến :” Tôi nói nếu bác rảnh, bác xê ra cho tôi cúng, bác rảnh bác xê ra, chớ cát cái gì?” Tôi đứng trong cánh gà, tôi nhắc Thanh Việt :” Ám ma ni bát di hồng ” Thanh Việt nẹt khăn ấn nghe rét rét, xướng lớn theo lời nhắc của tôi : Ám mani bát di hồng, Cấp cấp triệu thỉnh âm binh thần tướng lai đáo, La đường La Sát bách vạn thiêng liêng, Tiền sai lôi tướng, hậu khiển âm binh, Thính lịnh ngã sai, trừ tà sát quỷ. Là hỡi…hỡi âm binh ôi… Thay vì nói La Đường La Sát bách vạn thiêng liêng, Thanh Việt rống họng la lớn : Bà Năm Sa déc, bá vạn âm binh…. Khán giả cười ào ào. Bà Năm Sadec nổi khùng, la lên :” Ông THầy cúng cái gì kỳ vậy cà?” Bà kéo áo Thanh Việt, Thanh Việt vển râu lên la lớn : ” É Măm bô, măm bô i ta li nha nô! É Mâm BÔ…” Giàn tân nhạc duờng như đã được Thanh Việt dặn trước, tấu một khúc nhạc mâm bô rất giựt gân. Thanh Việt múa khăn ấn, nẹt rét rét, chân bước theo vũ điệu mâm bô, miếng hát nhịp nhàng như người cốt lên đồng Truyền chư vị chúng thần, Tương hồn ma nhập phách, Hoặc hồn ở đám lau bụi lách, Hoặc hồn ở các sà nách ba, Hay hồn tới xóm cây Da Xà, Nghe thầy triệu, hồn mau nhập thể, hô nhập…hô nhập…( nẹt khăn ấn) Hỡi hỡi âm binh thần tướng, hề tụ lãnh lương, Kép mùi, kép chánh, tướng cạnh, tướng con, Mợ chày mợ quý, vũ nữ vũ công, hề tụ lãnh lương, Bà Năm Sadec, cũng hề tụ lãnh lương ơi hỡi âm binh, Cấp cấp theo lịnh triệu. Khán giả cười ào ào vì Thanh Việt kêu réo mọi người trong gánh hát hề tụ lãnh lương. Anh cũng không quên kêu bà Năm Sadec hề tụ lãnh lương. Thanh Việt bặm môi vểnh râu càm ra phía trước, dùng cặp chân mày và bộ râu gỏ nhịp theo điệu nhạc măm bô, khiến cho khán giả cười vở rạp. Thanh Việt có một lúc hát cho đoàn cải lương Việt Nam của bà Bầu Thu – Minh Vương và 10 năm hát cho đoàn hát Dạ Lý Hương. Sau năm 1975, Thanh Việt hát cho đoàn hát cải lương Saigon 3, thời gian sau, Thanh Việt về hát cho đoàn Cầu Ngang, sau chót hết là đoàn Hậu Giang. Thanh Việt vì uống rượu nhiều, bị bịnh gan. Bệnh càng ngày càng nặng nhưng thời bao cấp, lương nghệ sĩ không đủ sống, anh không tiền trị bịnh.

Cho tới khi người ta thu vidéo hài, anh được rước về Saigon, bắt đầu có tiền thuốc thang trị bịnh gan thì trong khi thực hiện một đoạn phim, Thanh VIệt cỡi bò bị té, làm nặng thêm chứng bệnh gan. Anh được đưa vào bệnh viện nhưng anh đã qua đời trước sự thương tiếc của khán giả và đồng nghiệp.

Nghệ sĩ hài Khả Năng được gọi với biệt danh “Hề Mập”, cũng như người ta gọi Thanh Việt là “Hề Râu”, Tùng Lâm là “Hề Lùn” hay sau này diễn viên Trương Hùng Minh “nhỏ con” được đặc biệt hiệu “Minh Nhí”. Chỉ với các đặc điểm như vậy người diễn viên hài đã đủ gây cười cho khán giả khi lên sân khấu … Khả Năng nổi tiếng không chỉ trên sân khấu kịch, mà còn đóng phim, hát cải lương trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga và sau này là đoàn cải lương Văn Công Sài Gòn 2. Khả Năng lừng lẫy ra sân khấu với vóc dáng bự con, dềnh dàng, bộ mặt ngớ ngẩn, nụ cười ngây ngô. Hoặc “quậy” trong các bộ phim hài, kéo theo những tràng cười rần rần của khán giả.

Giữa thập niên 50, làng giải trí Sài Gòn xuất hiện “tam đại bầu show” Châu Kỳ – Tùng Lâm – Duy Ngọc, cả ba chuyên đứng ra tổ chức biểu diễn chương trình ca nhạc tạp kỹ. Trong các đại nhạc hội đình đám lúc bấy giờ, danh hài Tùng Lâm được xem là bầu show khá “mát tay” tại rạp Quốc Thanh, Olympic, Thanh Bình. Năm 1959, khán giả nườm nượp đến xem chương trình đại nhạc hội do Tùng Lâm – Lệ Liễu tổ chức, đông đến mức cầu sắt Thị Nghè… đổ sập!

Nghệ sĩ Tùng Lâm tên thật là Lâm Ngươn Phẩm, sinh năm 1934 (Giáp Tuất) tại Biên Hòa (Đồng Nai), là con út trong gia đình gồm 10 anh chị em. Thời trẻ, bước chân lãng tử của Tùng Lâm từng phiêu bạt sang tận Nam Vang (Phnom Penh – Campuchia). Con đường nghệ thuật bắt đầu mở ra khi vào năm 1948, Tùng Lâm đoạt thủ khoa cuộc thi hát của Đài Phát thanh Pháp – Á qua ca khúc An Phú Đông của nhạc sĩ Lê Bình, sau đó đoạt thủ khoa cuộc thi hát do Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức năm 1952 – 1953 với Tiếng dân chài của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Nghệ danh “Tùng Lâm” là do ông ghép họ mình và tên người bạn thân lúc đi thi. Không chấp nhận theo nghề “thầy kiện” (trạng sư) khô khan của bố, Tùng Lâm bước vào con đường nghệ thuật ngay khi còn rất trẻ với lớp dạy đàn, dạy luyện thanh và nhạc lý tại tư gia (đường Trần Văn Thạch, cạnh chợ Tân Định, đối diện rạp hát Modern). Tuy ngoại hình khá “mỏng cơm” (chỉ cao 1m54, nặng 49kg), gương mặt lại chẳng “ăn đèn”, nhưng bù lại NS Tùng Lâm được trời phú cho một phong cách diễn hài rất riêng: tinh tế, trào lộng và duyên dáng, từng được tuần báo Sân khấu kịch trường xếp vào hàng “thất hài đế Sài Gòn” gồm: Xuân Phát, Thanh Việt, Phi Thoàn, Khả Năng, La Thoại Tân, Tùng Lâm, Thanh Hoài. Năm 1961, sau tiểu phẩm hài Tâm sự hai anh phu xe diễn cùng Xuân Phát tại rạp hát Nodrodom, NS Tùng Lâm được báo chí tôn vinh biệt danh “Tiểu quái kiệt” – vinh dự lớn lao dành cho một nghệ sĩ trẻ như Tùng Lâm bởi lúc bấy giờ làng giải trí Sài Gòn chỉ có 3 “quái kiệt” là Trần Văn Trạch (em GS Trần Văn Khê), Bảy Xê và Ba Vân (anh NS Tám Vân).

Kim Chi Sưu Tầm