Đề Xuất 7/2024 # Những Miền Văn Hóa Du Lịch Lào Cai Thu Muc Lao Cai Doc # Top 2 Yêu Thích

Thư mục “Những miền văn hóa du lịch Lào Cai”

PHẦN I. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC

BẢO TỒN VÀ KHÔI PHỤC CÁC LỄ HỘI

Xác định lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong đời sống cộng đồng, từ lâu, ngành Văn hoá – Thông tin Lào Cai đã rất chú trọng đến công tác quản lý và tổ chức lễ hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

Trước mùa lễ hội 2008, Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh đã yêu cầu các địa phương nơi tổ chức lễ hội xây dựng lịch tổ chức lễ hội cấp xã, phường; gửi kế hoạch, kịch bản lễ hội cấp huyện, thành phố để tổng hợp, xây dựng thành lịch hoạt động lễ hội chung trong toàn tỉnh đảm bảo cho việc kiểm tra, quản lý được thống nhất.

Bên cạnh đó, ngành còn tổ chức lớp tập huấn về phương pháp tổ chức, quản lý và phục dựng các lễ hội truyền thống cho các cán bộ phòng Văn hoá – Thông tin – Thể thao của 9 huyện, thành phố trong tỉnh; hướng dẫn các cơ sở thành lập Ban tổ chức lễ hội, xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong lễ hội. Nhờ đó, các hiện tượng chèo kéo khách, dịch vụ đổi tiền lẻ, buôn bán sách bói toán, lộn xộn hàng quán và các dịch vụ vui chơi có thưởng đã được hạn chế.

Ngoài việc tổ chức thành công các lễ hội truyền thống của các dân tộc như Lễ hội Say Sán tại Cán Cấu – Si Ma Cai, lễ hội Gầu Tào của người Mông ở Pha Long – Mường Khương…, đối với lễ hội quy mô lớn như lễ hội Đền Thượng, ngành đã phối hợp với UBND thành phố Lào Cai tổ chức Lễ hội Đền Thượng từ ngày 21 – 22/02/2008 (15 – 16 tháng Giêng năm Mậu Tý) với nhiều hoạt động phong phú, trong đó có phần trưng bày, giới thiệu các sản phẩm văn hoá ẩm thực và các hàng thủ công mỹ nghệ, trưng bày, triển lãm ảnh, các chương trình văn nghệ quần chúng, trích đoạn lễ hội cổ truyền, các trò chơi dân gian truyền thống… thu hút đông đảo du khách thập phương về đây dâng hương, chiêm bái.

Ngoài việc duy trì tổ chức các lễ hội truyền thống, ngành Văn hóa – Thông tin tích cực khôi phục những lễ hội đang có nguy cơ bị mai một. Bảo tồn theo phương pháp trao truyền 12 lễ hội đặc sắc, có giá trị của 7 dân tộc tiêu biểu: Mông, Dao, Tày, Nùng, Giáy, La Chí, Hà Nhì. Trong đó, bảo tồn 02 lễ hội chính của người Mông gồm: Hội “Sải Sán” ở Pha Long, lễ “Nào Sồng” lễ ăn ước bảo vệ rừng; 03 lễ hội đặc trưng của các nhóm, ngành dân tộc Dao gồm: Tết nhảy người Dao Đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa, Tết năm mới người Dao Tuyển – Bảo Thắng, Hội rước hồn lúa của người Dao quần Chẹt – Bảo Yên. Đối với dân tộc Tày, tập trung bảo tồn 03 lễ hội chính: Hội rước nước ở Bắc Hà, Hội chơi hang ở Văn Bàn, Hội cốm ở Sa Pa; Trong các lễ hội của người Hà Nhì, tập trung bảo tồn 02 lễ hội đặc sắc là: Lễ mở cửa rừng, Hội Khu zà zà; Bảo tồn Lễ cúng rừng tiêu biểu cho các lễ hội của người Nùng; Người La Chí tập trung bảo tồn lễ hội trâu.

Tiêu biểu, ngành Văn hóa – Thông tin đã phối hợp với Phòng Văn hóa TT-TT huyện Bảo Thắng, chính quyền thôn bản tiến hành nghiên cứu, phục dựng lại Tết năm mới người Dao Tuyển – xã Phú Nhuận (Bảo Thắng). Trước khi tổ chức lễ hội đã họp Ban tổ chức với đại diện thôn và các nghệ nhân trong việc phục dựng mở rộng quy mô lẽ hội, giám sát tổ chức lễ hội truyền thống dân tộc Tày cư trú tại địa phương.

Về lễ hội mang yếu tố gia đình dòng họ đồng bào Dao đỏ ở xã Tả Phìn, Tả Van (Sa Pa) tổ chức lễ hội nhằm hướng thành viên các gia đình trong dòng họ nhớ về tổ tiên, tinh thân đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Về lễ hội do cá nhân gia đình người hành nghề tôn giáo (thầy cúng, thầy mo, thầy tào…) đều có sự đăng ký và giám sát của chính quyền địa phương.

Trong 2 năm (2006-2007), ngành Văn hóa – Thông tin đã bảo tồn được 04 lễ hội gồm: Lễ hội Gầu Tào – Làng Có (Thái Niên – Bảo Thắng), Lễ hội Gầu Tào – Cán Cấu (Si Ma Cai); Tết năm mới người Dao Tuyển (Bảo Thắng); Lễ cúng rừng cấm “Gà man do” người Hà Nhì – Nậm Pung (Bát Xát).

Trong thời gian tới, ngành Văn hóa – Thông tin tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn và khôi phục các lễ hội truyền thống, tuyên truyền việc thực hiện các nội dung Quy chế tổ chức Lễ hội, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trong việc chỉ đạo, quản lý lễ hội; tổ chức lễ hội khoa học, lành mạnh, tránh các hiện tượng phô trương, lãng phí, trục lợi, trái với truyền thống và bản chất tốt đẹp của các lễ hội.

Theo http://baolaocai.vn

ĐỘC ĐÁO LỄ HỘI ” TRẦU SUN” CỦA DÂN TỘC DAO ĐỎ

Hàng năm cứ vào ngày Hợi tháng giêng (mồng 5 Tết), dân tộc Dao đỏ ở Làng Chành, xã Xuân Giao (Bảo Thắng) lại rộn ràng mở hội “Trầu Sun”.

Đây là hội chơi xuân truyền thống của đồng bào Dao đỏ, mục đích của hội là thực hiện các nghi lễ cúng báo thần làng, đất trời phù hộ cho một năm mới, mở đầu chu kỳ sản xuất mới mưa thuận, gió hoà mùa màng tốt tươi, người yên vật thịnh, trâu bò đầy chuồng, gà vịt đầy sân…

Từ sáng sớm, thầy cúng chính cùng đại diện các hộ gia đình chuẩn bị đầy đủ các mâm lễ cúng thần trời đất, thần làng … Sau khi đoàn đội lễ đến tại khu đất rộng đầu làng (nơi diễn ra hội làng), thầy cúng thay mặt dân làng thắp hương khấn báo thần làng, trời đất phù hộ cho dân làng mở hội cầu mùa, cầu phúc, cầu tài cầu cho con trai làng trên, con gái làng dưới, thuận duyên, bén lứa nên vợ, nên chồng, nhà nhà ấm no hạnh phúc…

ĐÔNG VUI LỄ HỘI SAY SÁN BẮC HÀ

LCĐT – Mỗi khi tết đến, khắp núi rừng hoa mận, hoa đào khoe sắc cũng là lúc đồng bào vùng cao Bắc Hà tổ các lễ hội đầu xuân để cầu mong may mắn và cho những vụ mùa bộ thu. Say sán là một lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân gian của người dân vùng cao.

Thường lễ hội Say sán được tổ chức từ ngày mồng 2 đến mồng 6 tết theo khu vực cụm xã nơi có nhiều đồng bào người Mông, Tày, Nùng … sinh sống.

Địa điểm tổ chức lễ hội Say sán được đặt ở một vị trí linh thiêng và thuận lợi cho mọi người tham gia các trò chơi dân gian, như múa khèn, đánh quay, múa võ, kéo co, đẩy gậy… Người dân đến với lễ hội Say sán vừa để vui xuân cầu mong may mắn, vừa để gặp gỡ bạn bè, chúc nhau những chén rượu ngô nồng thắm.

HẤP DẪN LỄ HỘI ĐUA NGỰA BẮC HÀ

Bắc Hà nằm trên thượng nguồn sông Chảy, nơi được mệnh danh là cao nguyên trắng trên vùng đất Tây Bắc, sở hữu nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp và phong phú về bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Một trong những nét văn hóa rất đặc trưng của Bắc Hà đó là lễ hội đua ngựa. Lễ hội đua ngựa ở Bắc Hà dường như chứa đựng tất cả những gì thuộc về văn hóa của người dân vùng cao Lào Cai.

Đua ngựa đối với người vùng cao Bắc Hà như là một trò chơi chứa đựng nhiều nét văn hóa làm nổi bật bản sắc riêng của con người nơi đây.

Từ xa xưa, người Mông, người Tày, người Nùng, người Dao đã sống theo bản làng trên các sườn núi. Họ chủ yếu sống bằng nghề làm nương, làm ruộng và việc đi lại của họ cũng nhờ vào ngựa rất nhiều nên ngựa là con vật gần gũi, có vai trò cực kỳ quan trọng với cuộc sống của họ nên ngựa được nuôi nấng, chăm sóc rất kỹ. Đua ngựa xuất hiện ở mảnh đất vùng cao này cũng rất tự nhiên. Theo tục truyền: ngày xưa việc điều khiển ngựa thồ chủ yếu do các chàng trai đảm nhiệm, sau những buổi thồ ngô, thồ lúa xong sớm, đám trai tráng cao hứng rủ nhau đua ngựa để thử tài và cũng là để rèn luyện sức khỏe, dần dần đua ngựa trở thành lễ hội với nét văn hóa độc đáo riêng của người Bắc Hà.

Theo kinh nghiệm của đồng bào các dân tộc vùng cao, việc chọn ngựa đua cũng cần phải biết tuổi ngựa, bởi độ tuổi mà ngựa khỏe nhất là trong khoảng từ 4 đến 7 tuổi, muốn biết tuổi ngựa thì xem răng. Với những người có thâm niên đua ngựa khi chọn ngựa họ còn phải xem kỹ tính nết, bởi ngựa cũng có con dữ, con hiền, có con biết nghe lời và có con bướng bỉnh…Thực ra, việc chọn ngựa của các tay đua thì chỉ học qua kinh nghiệm các cụ truyền lại .Thức ăn của ngựa thường là cỏ, cám. Tuy nhiên khi chuẩn bị cho ngựa đi đua người ta thường cho ăn thêm ngô, thóc, đậu tương, song cũng cần cho ăn điều độ để ngựa không được béo quá (chạy nước đại sẽ nhanh mệt).

Ngựa là loài có sức khoẻ dẻo dai, ít bị ốm nhưng ở vùng cao Bắc Hà thời tiết lạnh nên ngựa dễ mắc sổ mũi và đau bụng, đầy hơi. Tuỳ từng bệnh mà có loại thuốc riêng, đa số người dân ở đây chữa bệnh cho ngựa bằng các bài thuốc dân gian gia truyền. Khi ngựa mắc bệnh viêm phổi, sổ mũi thì lấy quả thảo quả khô nghiền nhỏ pha với nước rồi cho ngựa uống 3 – 4 lần là khỏi. Còn nếu muốn chống cảm lạnh và chống rét cho ngựa trong mùa đông giá lạnh thì cần cho ngựa ăn thêm bã rượu ngô (ngô sau khi lên men đem nấu lấy rượu còn lại bã nguyên hạt).

Trò chơi có tính dân gian và dũng mãnh này đã trở thành một nét văn hóa độc đáo của người dân vùng cao Bắc Hà. Vẫn là các chàng trai người dân tộc địa phương “chân đất” thật thà, vẫn những chú ngựa do chính họ nuôi dưỡng hàng ngày thồ lúa, thồ ngô từ nương về nhà, nhưng khi vào cuộc đua đã mang đến cho khán giả những màn biểu diễn thật hấp dẫn, ngoạn mục, để lại trong lòng mỗi du khách ấn tượng sâu sắc khi đến với miền “cao nguyên trắng”.

http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam

Nguyễn Tuấn Long

Thông thường, gia chủ tổ chức lễ hội Gầu Tào trong ba năm liền, mỗi năm từ 3-5 ngày. Trong trường hợp chỉ làm một năm, lễ hội sẽ kéo dài tới 10-12 ngày. Ngay từ ngày 25-26 Tết, các chàng trai trong bản đã đi chặt tre để dựng cây nêu. Cây nêu được trồng ở một quả đồi thoai thoải hay ở một bãi đất bằng phẳng, rộng rãi mà gia chủ chọn làm trung tâm lễ hội. Trên ngọn cây nêu treo một bầu rượu, một miếng vải đỏ để kính báo với thần linh. Sự xuất hiện của cây nêu báo hiệu cho cả bản biết năm nay sẽ có gia đình tổ chức lễ hội Gầu Tào. Lễ hội Gầu Tào dù tổ chức ở một gia đình hay ở một số gia đình đều trở thành ngày vui chơi, thu hút sự tham gia của cả bản.

Chiều 30 Tết, đích thân gia chủ chuẩn bị lễ vật dâng cúng gồm: thịt lợn, bánh chưng, bánh dày, cơm, rượu, giấy bản…Thầy cúng lo việc cúng lễ ngay dưới gốc cây nêu để cầu Trời Đất, thần linh phù hộ cho gia đình gia chủ cầu được ước thấy, khoẻ mạnh, hạnh phúc, ăn nên làm ra, trồng trọt được mùa, chăn nuôi sinh sôi nảy nở. Từ mồng 3-5 Tết, thầy cúng cùng gia đình chọn ngày tốt, giờ tốt để mở hội Sau vài lời tuyên bố lý do mở hội của gia chủ, trai gái Mông trong các bộ y phục dân tộc rực rỡ sắc màu, vòng tay, vòng cổ lấp lánh cùng nhau hát những bài hát chúc tụng, ngợi ca bản mường, những bài hát vui, bài hát giao duyên tình cảm… Tiếp theo đó, hàng trăm người cùng nhau toả đi khắp các núi đồi, đường đi, những đồng ruộng cạn… Họ vui đùa, trò chuyện, chơi các loại nhạc cụ dân tộc như thổi kèn lá, sáo, khèn môi, kéo nhị, múa khèn…; các trò chơi dân gian như đánh quay, đẩy gậy…tạo nên không khí ngày hội hấp dẫn.

Thơ mộng nhất là những đám hát giao duyên của nam nữ thanh niên. Giữa lãng đãng mây ngàngió núi, các chàng trai áo chàm quấn quít bên những cô gái váy áo rực rỡ sắc màu. Họ vừa hát vừa thi thố tài nghệ, vừa ước mong được tìm hiểu nhau để nên vợ nên chồng sau những đêm hội đầu xuân. Còn với khách xa gần, ai đến hội đều được gia chủ đón tiếp thịnh tình bằng những bát rượungô nồngấm trong làn điệu khèn tha thiết, ân tình.

Cuộc vui kết thúc, thầy cúng thay mặt gia chủ tạ ơn Tổ tiên, Trời Đất, thần linh, xin phép hạ cây nêu, đốt giấy sớ, đem bầu rượu buộc trên ngọn nêu tưới khắp các hướng của đồi núi. Mảnh vải đỏ được gỡ xuống đem về treo ở cửa ra vào, ngụ ý cầu xin sự chở che của thần cửa. Gia chủ nhờ một đôi trai gái, một cặp vợ chồng khoẻ mạnh, giỏi sản xuất, đông con khiêng cây nêu về dựng phía sau nhà hoặc làm giát giường mong sớm có con, ngăn ma quỷ. Lễ hội Gầu Tào có sự trang nghiêm của phần lễ vàcái náo nức của hội hè.

Theo vietnam.vn.agency.com.vn

HỘI ROÓNG POỌC CỦA NGƯỜI GIÁY

(LĐCT) – Hằng năm, cứ vào ngày Thìn đầu năm, người Giáy ở Tả Van (Sa Pa, Lào Cai) lại mở hội Roóng Poọc. Đây là ngày hội xuống đồng, cầu mùa, cúng thần làng.

Rất nhiều người Kinh, người Mông, người Dao… cũng đến hội để xem và chơi các trò chơi dân gian.

Khi lễ hội khai mạc và tổ chức các trò chơi dân tộc thì trên quả đồi mâm xôi, các già làng đặt đĩa trứng luộc nhuộm phẩm đỏ, đĩa đồ trang sức bằng bạc, xôi đỏ, quả còn do các cô gái chưa chồng làm, lên bàn thờ để cúng thần, cầu mùa.

Trung tâm hội dựng cây còn cao vút bằng cây mai có một vòng tròn trên ngọn. Vòng tròn đó một mặt dán giấy đỏ tượng trưng cho mặt trời, một mặt dán giấy vàng tượng trưng cho mặt trăng.

Những người cao tuổi (nam một bên, nữ một bên) lấy 6 quả còn cùng ném tượng trưng 3 lần khai mạc, rồi sau đó mọi người vào cuộc chơi. Những quả còn tua xanh đỏ vun vút lao lên phông còn, tiếng xuýt xoa hò reo cổ vũ rền vang. Phông bị ném thủng là báo hiệu cho một năm mùa màng tươi tốt.

Huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã được nhiều người biết đến bởi vùng đất này là một trong số ít địa phương của cả nước có nhiều rừng nhất, đồng thời có tiềm năng to lớn trong phát triển du lịch sinh thái.

Văn Bàn còn là nơi có hệ thống đền chùa như: đền Cô Tân An, đền Chiềng Ken, khu di tích du kích Pú Gia Lan… khá thích hợp cho hoạt động du lịch tâm linh, khám phá.

Không chỉ có vậy, nơi đây còn là vùng đất giàu bản sắc văn hóa dân tộc, với lễ hội ăn thề bảo vệ rừng của đồng bào dân tộc Mông, Dao… Nhưng cũng có lễ hội rất đặc sắc đó là: Lễ cơm mới và hội hoa chuối của người Xa Ph ó.

Lễ cơm mới và hội hoa chuối của dân tộc Xa Phó Văn Bàn thường được tổ chức vào tháng 9 âm lịch hàng năm, được tổ chức tại một gia đình, nhóm gia đình, hay cả thôn bản.

Trong buổi lễ, người ta dựng một cây chuối rừng phải có cả hoa và quả tại trung tâm nơi làm lễ, sau đó cắm các loài hoa vào thân cây chuối. Mọi người đi vòng quanh cây chuối để múa cầu mùa, dâng cúng cơm mới và các món đặc sản của núi rừng quê hương. Điệu múa còn được diễn tả các động tác như: gặt lúa, săn bắn, bắt cá…

Hội hoa chuối là nơi tụ họp vui chơi, cầu chúc, múa hát, thể hiện tinh thần đoàn kết, nhớ ơn tổ tiên, cùng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, lao động của người dân tộc Xa Phó (Văn Bàn).

LỄ CÚNG THẦN NÔNG CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

Người Dao tuyển ở Lào Cai cư trú chủ yếu tại các huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Mường Khương, Bắc Hà và thành phố Lào Cai; so với các dân tộc khác, người Dao tuyển có tỷ lệ dân số cao, người dân còn lưu giữ được nhiều sắc thái văn hoá đặc trưng như văn học dân gian, tín ngưỡng dân gian, phong tục theo chu kỳ đời người… trong “di sản sách cổ” của người Dao tuyển.

Trong tín ngưỡng nông nghiệp, người dân quan niệm Thần nông “rằn nòng man” là vị thần phát hiện, hướng dẫn con người biết sử dụng và làm ra hạt lúa để sinh tồn. Do vậy, sau khi tra hạt và làm cỏ lần 2 (ngày 6/6 hằng năm), người Dao tuyển tổ chức lễ cúng nhờ Thần nông chăm sóc và bảo vệ cây lúa được tươi tốt, mùa màng bội thu…

Lễ cúng diễn ra ở quy mô cộng đồng làng và gia đình, song chủ yếu và thường xuyên là ở gia đình. Lễ cúng diễn ra gồm 3 phần gồm: khởi đầu – dâng lễ vật, niệm phép và trao hồn lúa. Lễ vật dâng chính bắt buộc phải có gồm thịt gà, lợn; số lượng lễ vật phụ thuộc vào số lượng thần linh và gia cảnh của chủ nhà.

Sau khi đã làm xong nghi thức giới thiệu, hiến dâng lễ vật và phát tiền cho các thần; thầy cúng ngồi niệm:

+ Mâm cúng tượng trưng kim quy đài “chắm quảy đài”:

+ Bát hương tượng trưng cho hoa sen “lền hoả”, khói hương toả ra tượng trưng cho ba đường thang mây lành “thám đến tảnh thếu lu”; khói hương được đốt từ nơi trần gian tới tầng mây (nơi trú ngụ của các vị thần tiên),

+ Trong khi hành lễ, thầy cúng dùng tay bốc những hạt gạo từ bát hương tung xuống lễ vật với hàm ý hạt gạo bay lên miếu Trúc Can mời Tứ trực công tào (trực ngày, trực tháng, trực năm, trực giờ) xuống nhận lý do và mục đích cúng tế của gia chủ; hạt gạo tượng trưng cho Binh chủ Hương Quan – một vị thần luôn hộ tống các lễ vật đến các vị thần linh mà dân làng (gia đình) nhờ gửi; vỗ tay tượng trưng hình thức thu gom (tai ương dịch bệnh…); cầm dao(đạo cụ) thể hiện binh khí diệt các tai ương, dịch bệnh, ma tà, khi đập xuống đất là thể hiện hành động chiến đấu…;

Phần niệm phép: Thầy cúng nghênh thỉnh ba lần mới các vị thần linh xuống nhận lễ và trợ giúp cho đệ tử của mình; tung gạo nhờ các vị công tào lên cầu thang mây đón thần linh xuống; thay mặt cho gia chủ hiến dâng tiền và lễ vật cho thần linh, cầu thần mong ước của dân làng có được một mùa thu hoạch bội thu; giao nộp lễ vật bằng cách cầm gạo ném vào lễ vật gồm lợn, con gà… đang thờ, nhờ Binh chủ Hương Quan (hạt gạo) hộ tống lên miếu của Thần nông “rằn nòng man”, Thổ địa “tây man”, Thần lôi “bù cong man”, Thần nhà “pdau man”; rót rượu mời các vị thần linh; phân phát tiền cho các thần linh: khi phát thầy cúng nhúm một ít gạo ném vào đống giấy thể hiện thầy cúng ký điểm chỉ cho từng phần; thầy cúng cài một miếng giấy lên tai phải (không đội mũ) rồi tung một ít gạo thể hiện chiêu binh, sau đó thu gom nững tai ương; xé giấy làm thể hiện làm chứng giữa gia chủ và thần linh được vui vẻ theo ước nguyện; cuối nghi lễ, thầy tung gạo 4 lần hàm ý đưa lễ vật và 4 vị thần linh về nơi ngự giá.

Trao hồn lúa: Thầy cúng ôm nắm cây xả tượng trưng cho cây lúa đứng dậy đi ba vòng theo chiều kim đồng hồ dừng lại lắc chuông… rồi đi ngược lại một vòng, trao cây lúa cho gia đình chủ nhà. Hôm sau, gia chủ cầm những cây lúa, cờ lúa… cắm tại nương với quan niệm thầy cúng đã xin hồn lúa từ Thần nông, sự giúp đỡ của Thần lôi, Thổ địa, Thần nhà sẽ tạo cho thời tiết được mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu…

Kết thúc lễ cúng, gia đình bày mâm mời nhà thầy cùng ăn cơm. Trước khi ăn gia chủ đặt một đĩa, trong đó để chén rượu đưa cho thầy cúng, gia đình chủ nhà quỳ gối lạy cảm tạ hướng về phía thầy cúng có nghĩa thầy cúng giúp gia đình lấy được hồn lúa… Thầy cúng rót rượu mời lại mọi người, chúc gia chủ có mùa thu hoạch bội thu…

LỄ ĐẶT TÊN CỦA ĐỒNG BÀO MÔNG LÀO CAI

Phùng Nam Trung

Sau 3 ngày kể từ khi đứa trẻ được sinh ra, đồng bào Mông (Lào Cai) làm lễ “húp pl ì” – gọi hồn và đặt tên cho trẻ.

Nghi lễ này là căn cứ ghi nhận sự tồn tại chính thức của một thành viên mới trong gia đình, đồng thời chứng tỏ một bước chuyển quan trọng trong cuộc đời của một người đàn ông: Lễ trưởng thành.

Ngay từ khi ông mặt trời còn ngái ngủ sau cánh rừng đại ngàn, màn sương đêm còn giăng mắc lơ lửng trên những thửa ruộng bậc thang, lễ đặt tên đã được bắt đầu với việc cúng trình báo các ma nhà.

Người chủ lễ đốt 3 nén hương và bắt 2 con gà (trống, mái) làm lễ trình báo tại cửa chính nhà đứa bé. Trong bài cúng, ông trình báo cho ma cột chính và các ma nhà (ông bà, tổ tiên) thông báo gia đình đã có một đứa trẻ mới ra đời cầu các ma cho nó được lớn khôn mạnh khoẻ, chăm chỉ. Cũng vào thời điểm này, đứa trẻ được mẹ mang ra tắm rửa sạch sẽ và mặc quần áo mới. Nước sau khi dùng tắm cho trẻ sẽ được người mẹ đổ ngay vào gầm giường, nơi đứa trẻ nằm, với ý nguyện sau này đứa trẻ sẽ lớn khôn với đức tính cần cù, chịu khó và tích cực sản xuất.

Tiếp đó, mọi người mổ lợn, gà, chuẩn bị rượu thịt, bàn ghế, quét dọn nhà cửa để cúng tổ tiên, đón tiếp khách mời … Khi công việc chuẩn bị đã xong, anh em, gia đình dòng họ, cùng láng giềng quây quần quanh gian chính ngôi nhà cũng là lúc lễ cúng trình báo tổ tiên được bắt đầu. Việc đầu tiên, người chủ lễ sẽ đốt 12 nén hương cắm tại các vị trí theo quy định rồi tiến hành lễ cúng.

Nghi lễ cúng kết thúc cũng là lúc anh em họ hàng và mọi người đến tặng cho trẻ trứng gà, đôi gà trống mái, bao gạo ngon, ít tiền cùng lời chúc trẻ sẽ khôn lớn, biết làm ruộng nương, leo núi đồi, giỏi đi rừng.

LỄ HỘI “NÀO CỐNG” NGHI THỨC ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC DÂN TỘC Ở LÀO CAI

Từ thập kỷ 50 về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ 3 gian. Ngôi miếu dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.

Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống.

Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo (4). Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường… Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:

Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.

Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng…

Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.

http://www.vietnamtourism.gov.vn/

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, cùng với hội tết nhảy của người Dao; hội gầu tào – sải sán của người H’ Mông; hội xuống đồng của người Giáy, Tày… người Nùng lại tấp nập mở hội cúng rừng.

Hội cúng rừng được tổ chức ở hai khu rừng cấm khác nhau, vào hai thời điểm khác nhau: đó là hội cúng rừng ở đầu bản vào ngày 30 tháng giêng và hội cúng rừng cấm giữa đồng vào ngày mồng 2 tháng 7 âm lịch.

Hội cúng rừng đầu xuân ngày 30 tháng giêng được tổ chức ở khu rừng đầu bản. Đây là hội chính nên được tổ chức một cách chu đáo tỉ mỉ và chặt chẽ. Cách đây vài chục năm, hội này do các già làng đứng ra tổ chức. Sau hội được giao cho ban quản trị hợp tác xã cùng đội sản xuất lo liệu và hiện nay giao cho các trưởng phó thôn chủ trì, các thầy cúng thầy mo chỉ làm các thủ tục lễ nghi.

Từ trước đó hàng tuần, các cụ ông và bà con dân bản tổ chức quyên góp tiền nong mua lợn gà, vàng hương, gạo nếp làm rượu cẩm. Ban tổ chức tập hợp bà con dân bản phân việc cho các bộ phận: hậu cần, tiếp tân lễ nghi phục vụ thầy cúng – thầy mo, bộ phận phát dọn cỏ làm sạch môi trường khu rừng cấm. Đặc biệt, trong bộ phận hậu cần, người ta chọn một bà già vừa đức độ vừa có kinh nghiệm làm hũ rượu cẩm để cúng thần linh.

Từ sáng sớm ngày 30 tháng giêng, trong khi đợi các bộ phận phát dọn, tiếp tân chuẩn bị, các thầy mo – thầy cúng xúc miệng bằng nước muối, rửa mặt bằng nước trầm hương và điểm tâm ngụm rượu, mặc quần áo dài mới, chân đi giày, đầu vấn khăn xếp chuẩn bị tiến hành các nghi lễ cúng rừng. Trong khi cúng, không được ai ăn uống, vệ sinh bừa bãi, ô uế môi trường.

Bàn thờ cúng đặt ở hai gốc cây cổ thụ gọi là cây bố và cây mẹ (tiếng Nùng là chapôq- chamêq). Thức ăn đặt trên lá chuối để trên một cái giá hai tầng, mâm trên và mâm dưới.

Cỗ mâm trên gọi là mâm đất nước gồm một con gà sống lông đỏ đẹp; một con lợn đực đen tuyền; 7 chén rượu xếp hàng ngang – chén giữa đội đáy một chén khác; một bát nước; một nhúm muối, 7 con ngựa giấy đen; một cái ô bằng giấy đen che lư hương (lư hương được bện bằng cỏ); 7 nén nhang; 7 bát cơm và 7 xâu thịt tổng hợp. Đặc biệt có một bát thịt gồm thịt nạc, gan, tim, tiết, gọi là bát bảo hộ đất nước.

Cỗ mâm dưới gọi là mâm bảo vệ bản làng. Mâm này gồm một con gà sống gáy; một miếng thịt lợn, 5 xâu thịt lợn tổng hợp; 5 chén rượu và 5 bát cơm. Chén giữa cũng đội đáy chén khác; 5 con ngựa bằng giấy. Khác với mâm cỗ trên, mâm dưới có một bát thức ăn chay.

Có hai thầy cúng, thầy mo thay mặt nhân dân thôn bản úp mặt vào cây quỳ lạy 4 phương trời, 2 lần mỗi lần 3 lại mang nghĩa đón nguồn nước mẹ về phù hộ độ trì cho bà con dân bản an cư lạc nghiệp, mọi sự bình lên.

Rượu để cúng là rượu nếp cẩm. Sau khi khai lễ lần thứ nhất, quì lạy 4 phương trời thì mổ lợn gà làm các thức ăn theo thủ tục để bàn thờ, hết hai lần cúng thì các thầy cúng và hai người tiếp tân cùng nhau ăn uống điểm tâm, xem bói xương gà.

Trong khi thầy cúng quay lại khấn vái, những người khác có thể xem nhưng không được nói tiếng dân tộc khác để pha tạp tiếng mẹ đẻ. Các thầy cúng và người phục vụ không được ăn uống gì cả, kể cả vệ sinh cũng phải ra ngoài khu rừng cấm. Sau khi làm hết các thủ tục thờ cúng, xem bói xương gà, trưởng ban tổ chức mới dùng loa đi mời toàn thể dân bản tới dự hội.

Hội được quy tụ ở ven khu rừng cấm và sinh hoạt tại chỗ. Người đại diện gia đình đến dự hội phải là con trai, bất kỳ già trẻ đều được. Đến dự hội ai cũng phải ăn mặc chỉnh tề, không được để đầu trần chân đất và tự đem bát đũa cơm rượu đóng góp theo nhu cầu của mình.

Các gia đình ở thôn bản khác và đồng bào dân tộc khác trong khu vực cũng được phép dự hội miễn là tuân thủ các quy định chung của ban tổ chức mà tục lệ đề ra như: phải có trách nhiệm đóng góp theo quy định chung, trong lúc dự hội cũng như sau lễ hội phải tuân thủ các lệ làng trong phạm vi khu vực như: không thả rông gia súc; gia cầm phá hoại mùa màng người khác; không chặt phá cây rừng bừa bãi, khi làng bản có gia đình nào tai bay vạ gió đói rét, bệnh tật, thiên tai hạn hán hoặc cưới xin, tang gia đau buồn phải có trách nhiệm giúp đỡ, đoàn kết lẫn nhau trong lúc hoạn nạn, khó khăn.

Mọi người ăn uống tập trung như một hội thề, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo vì tất cả thức ăn đều nấu chung thành một chảo (như chảo thắng cố) và chia sẻ đều nhau. Các thầy cúng cũng cùng ăn uống với mọi người trong không khí chan hòa tình cảm gia đình. Mọi người vừa ăn uống vừa chuyện trò vui vẻ.

Giữa tiệc hội, thầy cúng trịnh trọng thông báo những điều hay điều gở của xóm làng qua bộ xương gà, đầu gà, chân gà cho dân bản hay để cùng nhau đề phòng, tránh những đều tai bay vạ gió… cầu chúc cho dân bản lao động sản xuất được mùa và sống bình yên hạnh phúc.

Các thầy kêu gọi mọi người hãy đoàn kết chung lưng đấu cật thi đua sản xuất trên đồng ruộng, nương rẫy, phát triển chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm; cầu thần rừng phù hộ độ trì che chở cho mọi người đều được thanh tịnh bình an, mùa màng tươi tốt có cuộc sống an khang thịnh vượng, đồng thời lêu cầu mọi người thực hiện tốt các quy định về lệ làng đã được dân bản bàn bạc, nhất trí đề ra trong lễ hội.

Cuối buổi lễ hội, thầy cúng tuyên bố ăn tết 3 ngày không ai được vi phạm tục lệ. Nếu ai mang vác cuốc, cày, bừa, dao hay chị em phụ nữ có mang đội nón qua làng trong những ngày tết sẽ bị phạt vạ.

Sau các thủ tục lễ nghi, các thầy cúng ra về, dân bản vẫn còn rượu chè ca hát linh đình. Có tốp thì chơi trò Leng hao tức là hai tốt gần giống như “oẳn tù tì”; có đám thì hát Sán côx tức sơn ca nhưng chủ yếu là hát dân ca Lưnx cha chinw (tiếng hát làm ăn) trong đó có đoạn:

Một năm 12 tháng

Tháng hai lá mục nhú

Lá mục nhú mỏ quạ

Lá gianh ngọn lưỡi mác

Mọi lá cây đều mọc

Muôn thứ hoa đua nở

Chim rừng hát vang rừng

Chim rừng ca vang núi

Ve ở nương kêu nhiều

Đánh thức người ngủ muộn

Dậy lấy nước đựng bầu

Dậy lấy thóc tra nương

Báo làm ăn mùa mới

Kẻ có ngựa sửa chuồng

Người chống loạn sửa súng

Kẻ làng chơi sửa nhị

Người làm ăn sửa đồ (2).

Tuy rượu chè ca hát say sưa, nhưng cuối hội không ai quên dành một phần thức ăn về cho gia đình cùng vui hưởng phúc lộc của rừng. Sau đó các gia đình làm các loại bánh trái đã chuẩn bị sẵn như bánh khúc, bánh dày, bánh chưng rồi mổ gà cúng gia tiên, rủ con cháu họ hàng, mời làng xóm ngoài bản thân quen cùng sum vầy ăn tết ba ngày.

Nam thanh nữ tú, trẻ em lại chưng diện những bộ quần áo mới lộng lẫy đi tham dự các trò chơi vui xuân như đánh quay, đánh yến, đánh đu, làm leng hao, chơi cờ gỗ. Từ khắp góc bản đến giữa làng chỗ nào cũng nhộn nhịp, nghe thấy những tiếng con quay đôm đốp chạm nhau, đu quay kêu kẽo kẹt tiếng vỗ tay cổ động ầm ĩ của những người thắng cuộc trong hội leng hao, cờ gỗ…

Sau 3 ngày chơi tết, ăn uống vui xuân thỏa thích, nghe tiếng chim ngủ muộn kêu vang động núi rừng, không ai bảo ban thúc giục, bà con dân bản tiếp tục một năm làm ăn mới vì sự sinh tồn của mỗi con người, gia đình và cả làng bản.

Truyền thuyết của người Nùng kể lại rằng: con người vốn có tổ tiên, sinh ra nhiều thế hệ con cháu nối tiếp nhau khai thiên lập địa, đoàn kết bên nhau lập làng, dựng bản giữa trời đất thiên nhiên trù phú. Nhờ rừng núi mênh mông, thời tiết thuận hòa, đất đai màu mỡ, cây cỏ hoa lá xanh tươi con cháu mới xây dựng cho mình cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Cũng như con người, đất trời rừng núi là tổ tiên, linh hồn của vạn vật. Nó bảo vệ, che chở cho thế giới thiên nhiên luôn tồn tại và phát triển. Vì vậy, cùng với việc thờ cúng gia tiên trong các ngày lễ tết cổ truyền, để đền đáp công ơn của tổ tiên thì cũng phải cúng núi rừng, cầu rừng phù hộ che chở cho mùa màng, gia súc gia cầm luôn được phát triển tốt tươi không bị mưa gió vùi dập, sâu bọ phá hoại, bệnh dịch giết hại gia súc; cầu núi rừng và tổ tiên phù hộ cho người Nùng tránh khỏi mọi tai bay vạ gió, loạn lạc lâm nguy. Rừng núi non nước được dân thờ cúng như tổ tiên dân tộc. Nguyên do của lễ hội chứng rừng là thế.

Hội cúng rừng còn được những gia đình gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật, mùa màng thất bát tổ chức. Lễ vật cúng rừng ở gia đình đơn giản hơn, gồm một con lợn, một con gà sống gáy và một chai rượu. Thầy cúng phải khấn 3 bài cúng là:

Mời thần rừng xuống trình tấu,

Xin thần rừng giúp cứu dân độ thế,

Ví dụ trong bài cúng mời thần rừng trình tấu đề cứu giúp gia chủ có đoạn:

Hỡi chủ gỗ sung, cội gỗ sông!

Kính bốn phương trời bốn phương đất

Dù ở phương đông phương nam

Cũng kính mời tới phương đông phương nam

.. Ông ở xa, suối sâu không qua được

Khói hương này cũng đi qua

Ông ở xa, đường dốc không biết đi

Khói hương này đi báo phải về

Ông ở gần lời hoa tiếng ngọt

Nô tỳ này đi kính mời phải về

Thầy mo này đi tìm phải gặp

Mời về dẫm trước bàn

Mời về ngồi lên ghế

Đừng để bàn này vắng

Không để ghế kia vẻ…

Sau khi cúng xong, gia chủ mời đại diện của bản cùng họ hàng ăn uống. Trong ngày lễ này, những người trong gia tộc cũng phải tuân thủ những điều cấm kỵ như trong hội cả bản.

Hội cúng rừng cấm giữa đồng hoặc ngay trước bản tổ chức vào ngày mồng 2 tháng 7 âm lịch – đầu mùa lúa chín. Rừng cấm này chỉ bảo hộ vụ lúa ở ruộng đồng. Mâm lễ vật cúng ở rừng này cũng giống mâm cúng ở vùng rừng cấm đầu bản, song có một điều khác là mâm cúng dưới ở rừng cấm này có thêm một con vịt, vì bà con thường chăn vịt ở gốc cây lúa.

Quá trình tổ chức hội này cũng giống như hội chính, song trong quá trình tổ chức, nếu nhà nào đang có ruộng lúa bị sâu hại hoặc bị úa vàng khô gọi là bị phạm thần lửa, tiếng Nùng gọi là Sriuw phay, thì cũng cúng tại chỗ. Trong mâm cúng không có xâu thịt mà chỉ có bát thịt tinh chất và xôi vàng, dùng rượu trắng chứ không phải dùng cơm nếp cẩm với nghĩa chúc mừng và cầu mong lúa chín rộ.

Lúc ăn hội, chỉ có nam giới đi dự, bất kỳ già hay trẻ. Những người có vợ chửa thì không được đi dự mà chia phần về nhà vì người ta tin rằng nếu đi thì lúa sẽ bị mắc bệnh đốm lá. Những người đi dự không đội mũ thì ruộng sẽ có sâu ăn lúa và ai đem theo ớt đi ăn ruộng lúa sẽ chết khô. Vì vậy trong khi đi ăn cỗ, mọi người phải tuân thủ theo quy định chung của lệ làng là không được nói tiếng dân tộc khác, không được để đầu trần chân đất, không được ăn mặc quần áo rách, không được đem ớt, cơm cháy, rượu khê. Nước chấm món ăn cộng đồng chỉ có muối, mì chính, rau thơm. Lúc ăn có thể nói tục chứ không được chửi bậy.

Hội cúng rừng của người Nùng ngoài ý nghĩa là hội cầu mùa, cầu đất trời thiên nhiên phù hộ cho con người một cuộc sống an khang thịnh vượng, còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bảo vệ cảnh thiên nhiên kỳ thú… của làng bản.

Nguồn: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam

Lễ hội rước Đất, rước Nước của – Bắc Hà diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm.

Đi đầu đoàn rước là thầy cúng. Thầy là người giữ vai trò làm sứ giả để giao tiếp với các vị thần linh. Trong tay thầy cầm cây nêu – biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở – rước đến địa điểm diễn ra lễ hội.Tiếp theo là kiệu rước Nước và các mâm lễ. Nước được đựng trong hai ống bương to, tượng trưng cho ống bố, ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước Đất – hồn mẹ Đất được lấy từ trên đỉnh núi cao thiêng liêng. Sau đó là đến các mâm lễ để dâng các vị thần linh. Lễ vật gồm một mâm quả còn, bên trong các quả còn đựng các loại hạt giống do các cô, các chị kỳ công làm ra, các mâm xôi ngũ sắc, gà luộc, hoa quả… đều là những sản vật tinh tuý của mùa màng – thành quả sản xuất của dân bản trong năm. Đội chiêng trống đi hai bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy giao linh với các vị thần.

Địa điểm tổ chức lễ hội là cánh đồng rộng của bản. Khi các đoàn rước tới nơi, ba hồi kèn trống nổi lên vang động đất trời, thấu đến chín tầng cao xanh như báo cho Trời – Đất biết: Ngày hôm nay dân làng mở hội. Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu khấn.

Tiếp đó, thầy cúng phun nước làm phép để xua các điều xấu, xua quỷ dữ không cho về quấy phá dân bản. Rồi thầy tung lộc (ngô, lúa) của thần linh cho dân bản, những người dự hội ai cũng cố gắng nhận cho được vài hạt thóc, hạt ngô đem về nhà làm khước may mắn để nhà mình vụ sau ngô sai hạt, lúa sai bông.

Sau phần lễ nghi trên, mọi người bước vào phần hội với những màn xoè điệu nghệ của các cô gái, chàng trai. Khi các màn xoè kết thúc là các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, chọi gà, chọi trâu (bằng bắp bi chuối và măng), ném còn… bắt đầu Dù là ngày hội của người Tày nhưng các dân tộc khác trong vùng cũng đến dự rất đông vui.

LỄ HỘI TRÙM CHĂN

Lễ hội này được người Hà Nhì đen tổ chức ở 2 địa điểm

Địa điểm thứ nhất: lễ hội được tổ chức ở nhà và gia chủ sẽ phải chuẩn bị đồ cúng, bao gồm: 5 cái bánh dày, 1 bát thịt trâu luộc, 1 bát nước gừng pha nước và 4 cái bát con úp xuống đất trước bàn thờ (theo phong tục ở đây, các món đồ cúng sẽ do gia chủ – người vợ chế biến; nếu người vợ đi vắng phải do con gái cả làm và dù con gái cả đã đi lấy chồng rồi cũng vẫn phải về giúp đỡ gia đình lúc này); sau khi đồ cúng được chuẩn bị xong, gia chủ sẽ cúng đầu tiên, tiếp đó là tới các con – lần lượt từ con trai út cho đến con trai cả vào lễ.

Kết thúc lễ tạ, chủ nhà lấy bát nước gừng chia cho mỗi người trong gia đình uống một ngụm, ăn một ít thịt trâu luộc để hưởng lộc; bánh dày và gừng rượu được dành cho ông Táo, đặt ở bếp.

Địa điểm thứ 2: lễ hội được tổ chức ở rừng cấm – nằm tại trung tâm bản mà ngày thường không ai được vào. Trong khu rừng này có nhiều cây gỗ quí lâu năm được mọi người cùng gìn giữ, có một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ quý, mái lợp gianh, rộng hơn chục m² do dân bản dựng để cho người già và con trẻ ngồi khi tham dự lễ hội.

Theo tục lệ, lễ hội được tổ chức trong 3 ngày, người ta chọn ngày thìn là ngày khai hội và cúng vào ban đêm (vì làm như thế, các thần gió, thần đất sẽ được nghỉ ngơi yên tĩnh). Thầy cúng không nhất thiết phải là người chuyên nghiệp, chỉ cần là người 50 tuổi trở lên và không gặp điều rủi nào trong năm là được. Sau khi cúng, mọi người đều được mời ăn các lễ vật cúng và phải ăn cho hết, không được mang về.

Ngày hôm sau không khí lễ hội tưng bừng hơn: trai, gái trong bản rủ nhau vào rừng, mỗi người lấy sáu cành củi nhỏ về nộp cho lễ hội. Đến ngày thứ ba, tất cả dân bản tập trung lại để già làng – người cao tuổi nhất, cắt da trâu chia cho từng gia đình. Nếu số da trâu chia đủ cho mỗi gia đình hai chiếc thì năm đó làm ăn sẽ không thuận, còn số da trâu đã chia hết mà còn lẻ một, tức là năm đó dân bản được mùa.

Tại điểm trung tâm của lễ hội, già làng đánh đàn hoóttờơ, bà già nhảy múa còn thanh niên nam nữ hát đối nhau. Cùng với những điệu múa, trong ngày hội còn có một số trò chơi: trò đu dây, đu quay và hát giao duyên… đây là dịp để trai gái trong bản gặp gỡ và tìm hiểu nhau.

Trong những trò chơi đó, hát giao duyên của người Hà Nhì đen có những nét đặc sắc và hấp dẫn riêng, thường dành cho những đôi mới quen nhau, chưa dám ngồi gần: mỗi người một ống nứa dài khoảng 20cm với một đầu bịt kín bằng da rắn hoặc màng cây tre đực, có luồn một sợi dây móc rừng dài chừng 10m; khi đó, sẽ có một người nói còn người kia áp ống vào tai để nghe và ngược lại; nếu đã thuận ý nhau; trước tiên, người con trai thổi hơi ba lần vào ống và sau đó người con gái thổi lại ba lần, tức là đồng ý đi chơi với nhau; hai người sẽ đưa nhau vào rừng và cùng khoác chung chiếc chăn để hát hò, thổ lộ tâm tình.

Trong thời gian ba ngày diễn ra lễ hội, các thanh niên nam nữ được vui chơi, tâm tình thoả nguyện. Đã có nhiều đôi nên vợ nên chồng nhưng cũng có những cặp chỉ dừng lại ở mức quý mến nhau.

LỄ NHẬP TỊCH CỦA NGƯỜI DAO HỌ

Người Dao Họ có 4000 nhân khẩu cư trú ở 29 làng thuộc năm xã huyện Bảo Thắng: Sơn Hà, Sơn Hải, Phú Nhuận, Thái Niên, Trì Quang, một xã huyện Bảo Yên (Cam Cọn) và hai xã huyện Văn Bàn (Tân Thượng, Tân An). Người Dao Họ là nhóm địa phương (chỉ có ở Lào Cai) thuộc ngành Dao Quần Trắng trong tộc người Dao ở Việt Nam.

Người Dao Họ ở làng Khe Chẩu có 208 nhân khẩu với 42 hộ gia đình. Khe Chẩu là một làng toàn bộ người dân là Dao Họ cư trú khá biệt lập. Do đó yếu tố văn hoá cổ truyền vẫn được bảo lưu. Kinh tế của người Dao Họ Khe Chẩu là kinh tế nông nghiệp nương rẫy. Bên cạnh tàn dư tôn giáo sơ khai (linh vật giáo, thành đình…), họ còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của đạo Lão. Đạo Lão chi phối phong tục tập quán, lễ nghi đến hình thức thờ cúng cũng như quan niệm về thế giới quan.

Lễ nhập tịch của người Dao Họ là một lễ hội theo chu kỳ đời người, là hình thức lễ thành đinh. Người Dao từ 13 tuổi trở lên phải làm lễ nhập tịch. Đó là nghi lễ đánh dấu một giai đoạn quan trọng của con người- giai đoạn từ tuổi thiếu niên lên tuổi trưởng thành. Trải qua lễ nhập tịch chàng trai mới được cả cộng đồng công nhận thành viên, mới được thế giới thần linh thừa nhận là một thành viên chính thức có thể làm thầy cúng, có quyền lập bàn thờ. Và khi khuất núi, linh hồn người đó mới về được thế giới tổ tiên. Người chưa ‘nhập tịch’ bị cả cộng đòng coi thường, trong sinh hoạt của cộng đồng (lễ cầu mùa, ma chay, các nghi lễ tôn giáo), chỉ là người phục vụ, không được tham gia với tư cách thành viên của cộng đồng.

Gia đình dự định làm lễ nhập tịch cho con phải chuẩn bị về mọi mặt: gạo, thịt (gà, lợn), tiền rượu. Nhưng khá phức tạp là sự chuẩn bị về đạo cụ, đồ cúng, chọn thầy…

Lễ nhập tịch của mỗi thành viên thường tổ chức theo hai loại hình: lập tịch Tam thanh và lập tịch Tam nguyên. Tổ chức theo loại nào là tùy gia đình hoặc dòng họ. Gia đình vốn có ông bố làm Tam thanh con cái sẽ làm Tam thanh, Ngược lại gia đình có ông bố làm Tam nguyên thì con cái sẽ làm Tam nguyên. Lễ nhập tịch Tam thanh đơn giản (nên ít người làm). Lễ Tam nguyên tốn kém, phức tạp, thầy cúng Tam nguyên được trọng vọng hơn lên hiện nay nhiều người muốn làm lễ nhập tịch Tam nguyên. Khi quyết định làm theo nghi thức Tam thanh hay Tam nguyên, gia đình sẽ trực tiếp chọn thầy Tam nguyên hay Tam thanh làm thày truyền dạy cho đứa trẻ lập tịch. Thầy Tam thanh là người giỏi về văn, đạo lý gọi là bên đạo, có thầy tổ sư là ba vị Ngọc Thanh, Thái thanh, Thượng Thanh. Thày Tam nguyên là giỏi về pháp thuật, xuất binh có thầy tổ sư là ba vị Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên gọi là bên sư.

Khi chọn thầy, người Dao Họ phải xem cuốn sách ‘Tiên sinh’ chọn ngày tốt để hỏi thầy về đứa trẻ có đủ điều kiện làm lễ lập tịch trong năm nay hay không? Thầy xem tuổi để chọn ngày chọn tháng. Về nhà, gia đình tổ chức cúng tổ tiên ‘Hỏi ý kiến tổ tiên’. ‘Câu trả lời’ của tổ tiên đồng ý cho gia đình làm lễ lập tịch hay không, được thể hiện ở chân gà dâng cúng. Nếu chân gà đẹp (4 ngón chụm, ngón giữa trùm các ngón bên, ngón cái phải phủ lên hai ngón kia là tổ tiên đồng ý, khi đó chủ nhà mới được chọn thầy). Chủ nhà ghi tên gia chủ, hình thức làm lễ vào tờ giấy bản ‘sây sấu’ cắm vào bát hương bàn thờ thầy cúng chọn.

Khoảng từ 7 đến 9 ngày sau, chủ nhà đưa đứa trẻ lập tịch đến gặp thầy dâng lễ cúng. Từ đó ông thầy sẽ trở thành thầy dạy cho đứa trẻ- đứa trẻ phải coi ông thầy như người cha thứ hai của mình. Từ hôm gặp thầy đến ngày làm lễ lập tịch, đứa trẻ chỉ ngủ riêng, giữ ‘sạch mình’… Việc chọn thầy phải chuẩn bị trước ngày lễ từ một tuần đến 10 ngày để thầy cúng chuẩn bị các đồ lễ cúng: Viết sớ, cắt các tranh cắt giấy mang tính biểu tượng con cá xanh đỏ, cắt cờ, làm mặt nạ, làm đạo cụ múa… Công việc chuẩn bị phức tạp, thầy Tam nguyên phải mời thêm các thầy phụ và đồ đệ đến làm giúp. Thầy cúng và các đồ đệ còn luyện tập các nghi thức cúng, thực hiện một số điều kiêng kỵ cho ‘sạch mình’… Các thày cúng lựa chọn các bộ tranh thờ, sách cúng làm lễ cúng tổ sư trước khi đi cúng.

Làm lán cúng: lán thờ thường được làm gần nhà ở phía bên gian đặt bàn thờ, lán được làm tương tự như ngôi nhà, quây kín bằng lá cọ, chỉ để một cửa ra vào. Một bên mái phía giáp vách được khoét trống ở giữa, Nơi đó sẽ dựng một bàn thờ ngoài trời

Lấy dây võng: dây võng là một loại dây leo cổ thụ ở những khu rừng già gọi là ‘thầy mẩy’ hoặc ‘Mẩy ghịn’. Sợi dây bền dẻo, có mùi thơm như hương. Những người di lấy dây võng phải chọn loại dây leo dài vắt qua ngòi nước, suối và thật soắn, chặt thành từng đoạn cuộn bó khuân về, bóc hết vỏ chỉ lấy ruột và tước ra thành từng sợi cuộn đống để trong lán thờ. Dây võng sẽ được đan thành võng đỡ người lập tịch từ ‘ trên trời’ trở lại với cộng đồng. Trong lễ ‘ lập tịch’, chủ nhà phải dâng cúng nhiều tiền, do đó phải nhờ người làm tiền giấy gói cuộn từng xâu để sẵn trong nhà.

Lễ đòn thầy, trang trí bàn thờ, làm phép trừ tà: Vào khoảng giờ Thìn ngày thứ nhất lập tịch, thầy Tam nguyên cùng đồ đệ đánh chiêng, gõ trống múa nghi lễ tiến vào ngõ chủ nhà lập tịch. Đi đầu là một thầy Tam nguyên mặc áo đỏ tay cầm đao gỗ, một thầy phụ mặc áo vàng (hoặc nâu) tay cầm kiếm gỗ vừa đi vừa múa theo điệu mở đường. Tiếp theo là hai người múa ‘vạn pù’ cầm dải vải có tua múa theo điệu ‘ trừ tà’. Nổi bật là người đeo mặt nạ ông ‘sán cô’- biểu tượng của người khai thiên lập địa múa các điệu mang tính chất vui hoặc có tính chất phồn thực làm động tác giao cấu với trời đất). Đi giưã là Tam nguyên ôm sách và cầm kiếm phép, cái lanh,’lệnh bài’ cùng một vài học trò gánh sách, đạo cụ, đánh thanh la, trống. Khi đoàn thầy cúng tiến vào ngõ đứa trẻ lập tịch phải chạy ra vái chào, gánh sách cho thầy.

Đoàn thầy cúng Tam thanh do thầy cả dẫn đầu tay cầm kiếm thép, tay cầm sách đến lán cúng bắt quyết, làm phép thuật.

Khi vào lán hai thầy cúng Tam thanh và Tam nguyên dựng bàn thờ, treo tranh, treo bàn vị, tờ sớ… Bên phải là đàn thờ Tam nguyên, bên trái là đàn thờ Tam thanh. Đặc biệt, theo chiều dọc của lán thờ, các thầy cúng có dựng 4 khối cọc thẳng nhau theo nóc lán (mỗi khối gồm nhiều ống tre nhỏ bó lại) và các khối được dán kín bằng các giấy bùa. Đó là nơi nhốt ma, khi làm lễ các thầy cúng sẽ làm pháp thuật, đọc lời chú, dán bùa xua đuổi ma, nhốt ma làm ”trong sạch’ lán thờ.

Buổi chiều thứ nhất ‘lập tịch’, các thầy cúng và gia đình làm lễ rước tổ tiên. Địa điểm làm lễ là khu đất bằng phẳng ven suối hoặc gần ao (gần nơi nước chảy). Biểu tượng tổ tiên là các hình nhân bằng giấy (ông tổ là hình nhân bằng giấy đỏ, bà tổ là hình nhân bằng giấy xanh, tổ tiên các đời sau đã khuất (8 đời) bằng các hình nhân giấy trắng). Đồ cúng tổ tiên chỉ có gà, bông lúa, tiền giấy và trứng luộc, rượu. Ông thầy cúng Tam nguyên dùng kiếm phép làm phép thuật chở thuyền, bắc cầu đưa tổ tiên qua suối về nhà. Hai ông thầy cúng còn gọi tên từng vị tổ tiên rước lên võng (rước hình nhân lên tờ giấy bản dài một mét viết chữ võng), lấy nón làm lọng che. Đoàn rước hình nhân về bàn thờ gia tiên vừa đi vừa múa theo nhịp trống thanh la. Đội hình rước tổ tiên về nhà gồm hai người múa ‘Vạn pù’ (dải vải hình bán nguyệt có tua) múa chéo trước ngực, múa vòng tròn, múa vắt sang hai vai. Đi theo hai người múa là người đánh trống, người đánh thanh la. Tiếp theo là hai bố con người chủ nhà rước võng tổ tiên, thầy Tam nguyên, Tam thanh cầm sách, lấy chân hương chấm từng chữ dịa danh chỉ nơi tổ tiên đi qua.

Đoàn rước về đến cửa, thầy Tam nguyên cất cao giọng hỏi: ‘Đây có phải nhà ông chủ đám không ?’. Ông chủ nhà vội đáp và rước tổ tiên lên bang thờ.

Lễ ‘On sặt sư’ (lễ an thất): Sau khi mời tổ tiên về nhà, các thầy cúng cũng mời ma nước, thổ công, thần sấm, tổ sư thầy cúng, Lỗ Ban (ông tổ nghề mộc) về dự lễ. Nhưng theo quan niệm người Dao, các ma luôn rình rập phá đàn cúng. Do đó các thầy cúng phải thường xuyên làm phép thuật xua đuổi ma ác. Các thầy cúng Tam nguyên dùng ‘phép thuật’ (chấm đầu hương vào thanh la, trống và niệm thần chú) nhằm biến thanh la thành hổ cái hung dữ, biến trống hổ đực háu đói. Tiếng trống, tiếng thanh la dồn dập giả tiếng hổ gầm xua đuổi tà ma nhốt vào các ống tre ở giữa nhà. Đồng thời thầy Tam nguyên còn sai quân (tượng trưng là hạt gạo) trấn giữ phía cửa không cho ma ác lẻn vào.

Lễ thỉnh thần: Đuổi và nhốt hết ma tà, các thầy cúng thỉnh mời người đưa tin tức về nhà trời (các giao thông viên) đi mời các thần linh, các tổ sư về dự lễ. Có bốn ông ‘giao thông viên’ đi bằng bốn phương tiện khác nhau có ông cưỡi đại bàng lên trời gọi thần sấm, có ông cưỡi rồng đi gọi Long Vương, có ông cưỡi ngựa trắng đi gọi tổ sư thầy cúng, có ông cưỡi ngựa đen đi gọi thổ công. Thầy cúng đốt hình giấy bản bốn con ngựa giao cho các ‘giao thông viên’. Sau khi thỉnh gọi, các thầy phụ lễ nhảy theo điệu ‘Thao Má’. Điệu nhảy múa diễn tả các ‘giao thông viên’ cưỡi ngựa đi đón các thần về dự lễ. Điệu nhảy trong tư thế lò cò, một tay ôm chân, tay ôm hình đầu ngựa (làm bằng giấy đỏ) đặt ở gối. Nhảy trong tiếNg thanh la, trống đánh theo nhịp 2/4.

Thầy Tam nguyên đọc bài cúng ‘Thỉnh công tào’, ‘Tấu miên’, ‘Thỉnh chư thần’. Các đồ đệ ở phía sau nhảy theo điệu ‘Công tồ thao chung’. Điệu nhảy uyển chuyển, tay thả lỏng xuống bên hông, đánh sang trái rồi đánh qua phải. Tốp múa múa xong, thầy cúng đọc sách ‘Siêu panh’ thỉnh thoảng các thần linh cho chủ nhân biết địa điểm,lý do làm lễ lập tịch. Thầy cúng vừa đọc dứt lời cúng, cả tốp thầy phụ lễ tiến hành múa điệu ‘Siêu panh’.

Lễ ‘Tiu chay’: Các thầy phụ lễ mỗi người một con gà trống làm động tác gà mổ thóc. Thầy Tam thanh thổi phép thuật vào từng con gà. Các thầy phụ lễ tay cầm gà làm động tác mổ đứa trẻ ‘lập tịch’ và ông chủ nhà với ý niệm gà mổ hết bệnh tật, các loại ‘bẩn’ của chủ nhà và đứa trẻ ‘lập tịch’. Các thầy phụ lễ cầm gà múa khắp lán thờ nhằm nhặt hết xấu xa. Đội hình múa theo hình vòng trong, mỗi vòng múa theo những động tác khác nhau như múa dứ mổ, múa đêt gà trên đầu gối nhẩy lò cò, múa cầm gà ngang lưng, múa dâng gà lên cao. Mỗi động tác được múa ba vòng. Cùng lúc đó, thầy Tam nguyên dẫn đứa trẻ ‘lập tịch’ cầm một con gà trống múa chín vòng múa thấp, chín vòng nhảy lò cò đặt gà ngang lưng và chín vòng múa dâng gà cao. Kết thúc múa gà là điệu trống đổ hồi chín tiếng, tượng trưng gà vỗ cánh bay cao, bay xa mang xấu xa đổ ra sông ra biển.

Gà múa xong, cắt tiết gà vào chén dâng cúng ở năm phương, đông, tây, nam, bắc, trung tâm.

Lễ bắc cầu:Thầy cúng Tam nguyên đọc sách ‘Kía hụ’ kể về sự tích ông tổ sư Lỗ Ban, đồng thời cũng là tổ sư về làm cầu đường.Thầy phụ lễ treo tranh Lỗ Ban. Khi thầy cúng đọc sách cúng ‘Kía hụ’ đến phần ‘Bắc kim kiều’ thì gọi gia chủ mang vải đến bắc cầu. Một sải vải dài tự dệt của người Dao được căng ra, trải rộng vắt qua hai bên đàn cúng. Các thầy Tam nguyên, Tam thanh đội cầu.

Thầy cúng đọc cuốn sách ‘Hến’- sách dạy làm sạch nhà cửa đón họ hàng đến thăm. Hai thầy cúng phụ lễ mặc áo đỏ, áo vàng dùng ‘vạn pù’ múa các điệu nghi thức quét dọn nhà cửa. Đó là hình tượng của hai ‘tiên đồng ngọc nữ’ xuống trần gian quét dọn rác rưởi, tẩy uế nhà cửa. Hai thày phụ lễ vừa múa vạn pù vừa phun nước khắp năm phương, phun nước xung quanh nơi bắc cầu với ý niệm rửa sạch lán cúng, tẩy uế các điều xấu. Lán cúng được dọn sạch, dải vải làm cầu từ từ kéo lên trời- biểu tượng cầu đã hoàn thành.

Gia chủ mang một mâm lễ vật gồm 12 quả chuối. 12 gióng mía, 12 chén mật đặt trước dàn cúng. Bảy thầy cúng Tam nguyên, Tam thanh, một người cầm nhạc ngựa, một người cầm tiền giấy, một người đọc sách ‘ Síp hùng’, một người cầm kiếm phép, một người cầm lệnh bài, đứng quanh mâm tròn làm phép dâng cúng và múa.

Lễ phạt mộc dựng đài (bàn địa): Bản dịa là biểu tượng nơi xuất phát từ trên trời về với cộng đồng. Do đó khi dựng bàn địa phải có các nghi lễ thiêng. Gia chủ làm một mâm cúng gồm hương, gạo, trứng, rượu đặt trên nền đất chọn làm bàn địa. Trên mâm còn đặt kiếm phép của thầy Tam thanh. Thầy Tam thanh cúng thần linh, thổ địa công xong liền cầm kiếm phép vạch địa điểm chôn cọc dựng bàn địa. Thầy Tam nguyên cầm đao đo các cột. Thầy phụ Tam nguyên cầm thước lệnh ‘lanh’ đo mười hai ‘lanh’. Thày Tam thanh cúng mời ông lỗ Ban về dựng bàn địa. Thầy Tam thanh đọc lời cúng, đến phần phạt mộc ông Tam nguyên cầm rìu phạt mộc tượng trưng .Khi nghi lễ cầu cúng kết thúc, mọi người góp một tay làm bàn địa. Mọi người chọn 4 cây cọc to khoẻ, chắc chắn, trên đầu cọc đặt một chiếc bàn hướng về hướng đông. Bàn gỗ cách chân cọc khoảng 2,5 m. Từ chân cọc đến mép bàn dựng một chiếc thang có mười hai bậc (biểu tượng 12 bậc lên trời). Khi dựng xong bàn địa các thầy cúng bảo người nhà phủ lá chuối lên bàn địa. ở nhà gia chủ mọi người tập trung gây mối đan võng. Gia chủ và một số người gây mối đan ở giữa (theo kiêu chặn chôn quang). Từ mối đan từ hôm sau mọi người đan tiếp.

Lễ dậy kín: Buổi chiều ngày làm lễ thứ hai, các thầy cúng, gia chủ và đứa trẻ làm lễ lập tịch kéo vào rừng dặn những điều bí mật. ở đây đứa trẻ lập tịch dưới sự hướng dẫn của các thầy cúng phải tập các nghi thức, động tác chuẩn bị nhảy võng ngày hôm sau. Người lập tịch ngồi trên chiếc ghế cao, phía dưới dải chăn bông đỡ khi tập ngã lộn phía sau. Phía trước mặt người lập tịch là thầy Tam nguyên căn rặn các điều răn, phía sau thầy Tam thanh căn dặn các điều cấm. Thầy cúng phụ Tam nguyên cầm chiếc thước lệnh lanh khắc chữ Trung nguyên hướng dẫn các động tác chuẩn bị khi nhảy xuống đất.

Buổi tối, Thầy Tam nguyên đọc sách ‘Thanh Trúc’ dâng tổ tiên ăn và nộp hương trà. Các thầy cúng phụ cùng các đồ đệ múa các điệu ‘tì vặn pù’ (múa dùng đạo cụ là tấm vải có tua), múa lệnh (đạo cụ là thước lệnh).

Lễ tam nguyên thụ giới: Vào gà gáy lần thứ nhất ngày thứ ba, mọi người chuẩn bị tổ chức lễ ‘Tam nguyên thụ giới’. Đứa trẻ làm lập tịch Tam nguyên được các thầy phụ Tam nguyên đưa vào lán thờ mặc áo đỏ Tam nguyên, đeo tranh ‘Hạ nguyên’, quần trắng. Thầy phụ Tam nguyên nối một dây vải ở bụng thầy với đứa trẻ lập tịch. Đó là biểu tượng của sợi dây rốn. Các thầy cúng cầm dao, đao, lệnh bai đi vòng quanh người lập tịch. Vừa đi, các thầy vừa cầm vũ khí chém đâm xung quanh. Sâu đó các thầy cúng cầm nến đi vòng quanh người lập tịch. Hết vòng các thầy chụm tay vào trán, vào bụng, vào chân người lập tịch niệm thần chú.

Đi đầu là thầy phụ Tam nguyên mặc áo đỏ cầm hai kiếm vừa đi vừa múa kiếm mở đường. Đi thứ hai là thầy phụ Tam thanh mặc áo đen đeo mặt nạ Tam thanh vừa đi vừa múa lệnh bài lanh. Người đi thứ ba đeo mặt nạ ‘Sán cô’ vừa đi vừa múa các động tác mang tính chất phồn thực, tung đất đá… biểu tượng của ông Sán cô- người khổng lồ có công tạo ra vũ trụ, muôn loài. Đi thứ tư là hai ông thầy phụ cầm tấm vải có tua ‘vạn pù’- vừa đi vừa múa theo các động tác biểu tượng phản ánh quá rình sản xuất. Đi thứ năm là một thầy phụ Tam nguyên trong phục Tam nguyên, trán treo mặt nạ Tam nguyên, đầu đội mũ có đuôi nối dây rốn với người lập tịch. Thầy phụ hướng dẫn người lập tịch đi theo nhưng thầy phụ phải đi giật lùi, mặt đối mặt với người lập tịch.

Theo sau liền kề với đứa trẻ lập tịch là ông thầy chính Tam nguyên mặc áo đỏ, đọc sách khuyên răn người lập tịch những việc cần làm và không nên làm. Bên cạnh ông ta là thầy chính Tam thanh tay cầm kiếm phép niệm thần chú. Hai người khiêng võng lưới và dàn nhạc cùng mọi người đi theo ra đài lập tịch (bàn địa).

Đến đài lập tịch cả đoàn người đi quanh dài ba lần theo chiều từ trái sang phải. ở hướng đông đài lập tịch đặt một bàn hương treo tranh Tam nguyên , ở hướng tây cũng đặt một bàn hương treo tranh Tam thanh. Thầy phụ Tam nguyên mang nước lên rửa đài lập tịch. Thầy chính Tam nguyên đứng phía trước đài (hướng đông), thầy cúng Tam thanh đứng phía sau đài (phía tây). Thầy phụ Tam nguyên dẫn người lập tịch bước lên ngồi hai bên bậc thang thứ ba. Khắp 12 bậc thang đều thắp nến và hương. Một thầy phụ Tam nguyên leo lên thang hỏi đài dựng ở đây làm gì? Một thầy khác trả lời: đài dựng làm lễ lập tịch. Thầy phụ leo tiếp lên mặt đài, một tay cầm đao gỗ, một tay cầm tấm vải có tua ‘van pù’múa theo điệu ‘khỏi kiềm’. Điệu múa diễn tả các động tác chém đao, hất ‘vạn pù’ theo năm hướng. Các điệu múa này nhằm quét sạch tà ma, cái xấu khỏi đài cúng. Kết thúc điệu múa, ông thầy phụ Tam nguyên vỗ vào cột và nhảy xuống đất (kiêng không xuống đường cầu thang). Thầy phụ Tam thanh tay cầm kiếm phép bước lên dài, lấy kiếm vạch mặt đài và niệm thần chú. Xong nghi lễ, ông ta tụt cột xuống. Hồi trống nổi lên dồn dập, thầy phụ Tam nguyên cùng người lập tịch từng bước lên hết bậc thang. Hai người đi song song, dùng tua vải xua hai bên dọn đường. Lên đến mặt đài, thầy phụ dẫn đường đỡ người lập tịch lên mặt bàn. Riêng ông ta đứng ở bậc thang cuối cùng, sau đó ông ta lấy các sợi dây vải trắng, đen kẹp vào ba khe ngón taygiữa của người lập tịch, mỗi khe ba cặp. Ông ta làm động tác tượng trưng cắt dây rốn nối bụng thầy trò và thả xuống khe thang. Ông thầy phụ dẫn đường còn căn dặn người lập tịch nhớ kỹ các hành động cần làm khi rơi xuống võng. Ông thầy tụt xuống đất theo đường cột. Chỉ còn đứa trẻ lập tịch ngồi trên mặt đài, cầu thang bị tháo hết. Đứa trẻ ngồi quay lưng về hướng đông (hướng sẽ rơi xuống), mắt nhìn về hướng tây nơi ông thầy sẽ chỉ huy cuộc nhảy xuống lưới võng. Toàn bộ số người dự lễ phải tuyệt đối giữ im lẵng để người lập tịch tập trung sự chú ý theo dõi thực hành các động tác của thầy hướng dẫn. Ông thầy ngồi cách đài 5m, tay cầm kiếm phép hô và ám hiệu bằng tay cho người lập tịch. Ông nhổm người hô, khom người hô, đứng thẳng hô. Ông làm động tác dang tay phải sang tay trái, dang tay trái sang tay phải, giơ thẳng tay lên đầu. Mỗi lần dang tay ông đều hô. Người lập tịch trên đài nhìn và làm theo từng động tác của ông ta. Sau mỗi lần dang tay phải hoặc tay trái, người lập tịch lại một lần thả một cặp vải trắng đen ở kẽ tay xuống đất. Cứ như vậy sau 6 lần thì số vải kẹp tay được thả hết.

Theo sự hướng dẫn của thầy, người lập tịch đứng thẳng và ngồi xuống theo kiểu ngồi bó gối, xoay dần ra mép bàn đài phía đông. Trong lúc đó, ở dưới đất mọi người vội vàng trải lưới võng cho căng ra. Mỗi người cầm một góc lưới thật căng. 12 chiếc chăn bông được xếp sao cho khi đứa trẻ rơi xưống thì tất cả các đầu chăn phải chụm lại phủ kín, bao bọc toàn bộ người lập tịch. Năm ông thầy cúng cầm từng nhúm gạo (biểu tượng quân lính âm binh) ném trên võng nhằm bảo vệ người lập tịch.

Khi người lập tịch Tam nguyên nhích lùi dần đến mép phía đông của mặt đài ông Tam thanh hô được rồi, ông thầy cúng Tam nguyên hô ngã, đứa trẻ lập tịch buông mình rơi xuống lưới võng theo đằng lưng xuống trước. Khi xuống tới nơi, người lập tịch được bao bọc bởi 12 cái chăn. Nhưng anh ta không được động đậy mà phải giữ nguyên tư thế ngồi khom tay bó gối. Thầy chính vôi cởi áo Tam nguyên phủ lên người đứa trẻ. Các thầy cúng khác lần lượt phủ áo lên người đứa trẻ. Chỉ đến khi các thầy cúng xông vào lấy tay đập vào người, gối, đứa trẻ dường như choang tỉnh, bỏ tay và duỗi thẳng chân ra. Tư thế ngồi bó gối lúc rơi xuống là tư thế bắt buộc- không làm được như vậy sẽ là điều xấu, đứa trẻ trở thành đứa trẻ hư, không tuân theo quy định của cộng đồng, thậm chí sẽ phản lại cộng đồng. Các thầy cúng niệm chú cho người lập tịch. Thầy Tam nguyên cùng các thầy lần lượt đem dấu đóng vào tay, trán, ngực người lập tịch. Các thầy cúng cũng lần lượt vào bóc trứng và cơm cho người lập tịch. Người nhà đem đến một chiếc ống nứa dốc tiền vào người, vào lòng người lập tịch, xé vải làm hai đoạn giao cho người lập tịch. Người cúng chính là Tam nguyên đọc sách ‘An quang’, sách ” Nhặn quang răn dạy người lập tịch’.

Đoàn người quay về lán. Trước khi rời đài, đoàn người phải đi ba vòng và múa, vừa múa các thầy cúng vừa chặt các dây lưới võng ra nhiều mảnh và vứt năm phương. Nghi lễ ở đài lập tịnh kết thúc, mọi người trở về lán. Đội hình trở về lán tương tự như khi đi, các thầy cúng cũng múa những động tác tương tự. Khi về tới lán, thầy Tam nguyên phụ hướng dẫn đứa trẻ lập tịch tiếp tục và múa vạn pù rất nhiều kiểu. Các điệu múa này phản ánh các động tác trừ tà, làm đất gieo trồng, thu hoạch lúa nương. Thầy chính Tam nguyên đọc sách ‘an quang’, người lập tịch đọc theo, sách kể quá trình lập tịch. Thầy phụ Tam nguyên đọc sách ‘yang đệm’- sách cấp bằng sắc. Thầy phụ còn đóng dấu vào sách ‘yang đệm’ và trao cho đứa trẻ. Đứa trẻ ở giữa, năm thầy cúng vây quanh lần lượt cấp bằng cho đứa trẻ lập tịch, làm phép nạp đăng cho đứa trẻ.

Buổi chiều các thầy cúng làm lễ tạ ơn tổ tiên và các tổ sư về giúp lập tịch, đốt các loại tranh cắt giấy, bùa chú trang trí ở lán thờ, dựng lại tranh bắc cầu, sai quân lính vận chuyển lễ vật về thế giới bên kia. Lễ lập tịch kết thúc.

Lễ lập tịch của người Dao Họ là một hình thức tàn dư của lễ thành đinh như sự thử thách về thể xác và tinh thần, sống cách biệt với phụ nữ và cách biệt với mọi người… Lẽ lập tịch của người Dao Họ còn in đậm và chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của đạo giáo, gắn ý nghĩa thành đinh- đánh dấu tuổi trưởng thành với sự phong sắc, chứng nhận khả năng làm thầy cúng.

http://egov.laocai.gov.vn/home/vn.

LỄ TẾT CỔ TRUYỀN MỒNG MỘT THÁNG BẢY CỦA NGƯỜI NÙNG

Sau tết nguyên đán cổ truyền, đồng bào Nùng Mường Khương còn có một lễ tết nữa đó là tết mồng một tháng bảy âm lịch.

Hàng năm, cứ đến hạ tuần tháng sáu (âm lịch), bà con người Nùng lại nô nức phấn khởi chuẩn bị chào đón lễ tết mồng một tháng bảy (tiếng Nùng gọi là chinw chinhw chetx). Khắp các gia đình, làng bản từ già đến trẻ bàn tán xôn xao, náo nức chuẩn bị cỗ tết.

Đũa đỏ được nhuộm bằng lá xôi đũa (tếng Nùng gọi là chămj thuj). Loại là xôi này chỉ dùng để nhuộm đũa đỏ và xôi đỏ. Kỹ thuật nhuộm đũa đỏ và xôi đỏ rất đơn giản: cho lá xôi một lượng vừa phải với số lượng đũa và nước đun. Bởi vậy, nhiều người phải nhờ những người có kinh nghiệm nhuộm giúp.

Công việc cuối cùng trong ngày chuẩn bị tết là cả nhà ai nấy đều tắm giặt, thay quần áo sạch sẽ: nhà nào phải làm cỗ cúng trời thì chuẩn bị mâm cỗ cúng. Mâm cỗ cúng trời được đặt ở trên sàn góc sân để đảm bảo sạch sẽ. Do đó là những nhà phải cúng trời làm một cái sàn góc sân nhà để cúng vào dịp tết tháng 7, sau đó dùng phơi thóc, ngô, ngồi khâu vá… Song có điều kỵ là người mang thai không được làm, phải nhờ người khác làm giúp. Mâm cúng trời tiếng Nùng gọi là ‘Pai chan- cungj phax’. Một cái bàn đặt quay hướng mặt trời mọc và một cây cầu trời bằng vầu cao hơn đầu người được căng một tấm vải đen và vây xung quanh mâm cỗ; mâm được lót bằng lá chuối, đặt năm cái bát, năm cái chén làm bằng dóng cây sậy, một bát nước phép; năm lư hương bằng thân chuối; có hàng giấy ngựa treo năm con màu đỏ (có dòng họ ba con); chén rượu giữa cũng đội đáy một chén khác gọi là ta chanj như cúng rừng; một bát nước lá sôi nhuộm đũa đỏ; một lọ giã ớt bằng vầu, có cả chày nhuộm đỏ. Bên cạnh mâm có bầy cả bã lá xôi nhuộm đũa. Vật cúng chỉ có một con gà sống gáy to, đẹp, lông đỏ; năm bát xôi màu tím và một miếng thịt lợn nhỏ.

Gần như thành quy luật tự nhiên, tết tháng 7 năm nào cũng vậy, ngày 30 tháng 6 hoặc chí ít cũng là buổi chiều trời thường tuôn mưa tầm tã. Đồng bào gọi đó là pfănw sra chan- tức mưa dội sàn.

Sáng mồng một tháng bảy là lễ tết chính của đồng bào sau đó là vui chơi ăn uống linh đình, hội hè tấp lập. Khi mới gà gáy canh ba, các gia đình làm sàn cúng trời đã thức dậy nhóm bếp thổi xôi, mổ gà trước khi trời sáng. Thầy cúng mặc áo dài vải đen, đầu đội khăn xếp, chân di giày long trọng khấn lạy bốn phương tám hướng trời đất, núi rừng, cây chuối làm lễ tạ ơn đã phù hộ độ trì cho người Nùng chiến thắng giặc ngoại xâm, bảo tồn nòi giống dân tộc mà người Nùng không bao giờ quên. Nội dung bài cúng có đoạn:

Hỡi ông thần trời thánh đất

Hỡi ông thần trái đất

Hỡi mặt trời trên cao

Và rừng chuối nơi thấp

Hôm nay ngày một tháng bảy

Ăn tết thứ người Nùng1

Nô tỳ này họ Vương cháu gia.

Con đời cháu thế hệ đời chắt người Nùng

Nô tỳ này mang miếng thịt lợn nhỏ, con gà sống gáy to lên kính

Đem đĩa xôi tím, ngụm rượu ngọt về mời

Mời đến thần trời thánh đất dự cỗ

Mời đến thần trái đất, mặt trời trên cao ngồi mâm

Cúng tổ tiên tộc Nùng chơi vui bữa cỗ

Cùng thế hệcháu, hệ chắt người Nùng ăn tết tháng bảy

Ăn cỗ xong xin phù hộ độ trì người Nùng

Ban phước tộc Nùng thịnh trị bình an…2

Sau một bài cúng, thầy cúng mổ gà nộp lễ.Con gà được làm lông tại chỗ. Con gà không luộc chín mà bày thịt sống, cả lông rác gà cũng được bày nguyên tại chỗ trên lá chuối đặt cạnh mâm và cúng cùng một lúc với mâm cỗ. Gà được cúng cùng xôi màu tím, thịt lợn, Một điều đáng chú ý là phải làm thật nhanh để cúng và thu dọn trước khi trời sáng. Sau khi ba hồi thờ cúng với ba hồi nhang tắt mới hoá vàng thu về nhà, Sau khi thu về nhà, bã lá xôi và lông gà vẫn để nguyên trên sàn qua ba ngày mới được dọn. Đồng thời sàn cúng câm bang sau ba ngày mới được sử dụng làm sân phơi hoặc chơi bời

Sau khi bày sàn thờ cúng xong lại tiếp tục mổ gà thờ cúng gia tiên. Gà thờ cúng gia tiên không nhất thiết là gà sống gáy mà gà mái cũng được. Mâm cỗ thờ cúng gia tiên chỉ có gà và các thức ăn phụ khác nhưng nhất thiết phải làm bát tiết canh gà. Thịt gà không bày cả con mà đem chặt từng miếng xếp gọn trong đĩa. Số lượng món ăn không quy định nhưng phải có bảy món trở lên. Bài cúng có nội dung chủ yếu là kính mời gia tiên xuống dự tết cổ truyền mồng một tháng bảy cùng vơí thần trời thánh đất… cầu các ông bà tổ tiên tiếp tục phù hộ độ trì cho con cháu trong gia đình có cuộc sống an khang thịnh vượng.

Cùng lúc với các ông làm lễ cúng gia tiên thì các bà, các chị làm xôi bảy mầu, đó là mầu đỏ tươi, mầu đỏ thẫm, mầu vàng, mầu xanh lá gừng, màu nâu, màu xanh nước biển, màu tím. Xôi làm từ gạo nếp được nhuộm mầu từ các loại hoa, lá bằng các cách khác nhau đem bỏ vào chõ đồ lên, dùng để thiết bà con bạn bè.

Ngày tết, gia đình nào cũng đặc biệt chú ý đến ‘còng gà’ cho trẻ em; không chỉ trẻ em trong nhà mà cả con cháu anh em, khách khứa cũng phải biếu mỗi đứa cái còng. Còng gà cho cháu ttrong ngày tết phải to gấp đôi mọi khi, do đó gia đình nào cũng phải mua nhiều gà.

Đối đáp không xứng bạn thân.

Đãi không cân bạn hữu

Bốn góc uốn sừng bò1

Trên cỗ toàn bát không.

Khách đáp lại rằng:

Hỡi bạn thông thân hữu

Cỗ say không biết chúc

Bốn góc uốn sừng trâu

Trên cỗ bày tám bát.

Sau bữa cỗ có gia đình tổ chức chơi các trò chơi truyền thống.

Lễ tết tháng bảy được thu xếp vui chơi ăn uống trong ba ngày: song qua ngày mùng một, sang ngày mùng hai là các khách thân bạn hữu xin phép ra về vì chơi hết tết sẽ không đẹp. Giữa gia đình và khách lưu luyến chai tay. Gia đình nào cũng gói xôi bảy mầu cùng với còng gà làm quà cho gia đình thân khách, rồi lại mời hẹn gặp nhau trong dịp lễ tết năm tới rất nồng nhiệt.

Về lịch sử tết mồng một tháng bảy không còn ai biết cụ thể. Các tư liệu thành văn cũng chưa ai nghi chép cụ thể mà chỉ truyền lại trong ký ức nhân dân. Theo truyền thuyết dân gian tuy chưa đầy đủ nhưng có thể khái quát rằng lễ tết mồng một tháng bảy gắn liền với một trang sử hào hùng của dân tộc Nùng:

Vào tháng năm, một năm đời Hán. bọn giặc Hán phương bắc muốn mở rộng khu vực cai quản đã đưa quân đánh chiếm vùng người Mường Mườmg Khương. Nhiều người đã bị chúng vây bắt giết hại một cách đẫm máu. Nhân dân đã tổ chức chống lại quyết liệt để giữ mảnh đất mà người Nùng đã khai thiên lập địa. Mặc dù quân giặc mạnh hơn gấp bội nhưng người Nùng cũng đã giao tranh cầm cự giữ vững vùng đất hàng tháng trời. Song do thế mỏng, lực ít, lại bị động trước âm mưu của giặc, để tránh những thiệt hại không cần thiết, lực lượng của người Nùng tạm thời bí mật rút lui an toàn vào các khu rừng chuối rậm rạp ven sông Chảy để bảo toàn và xây dựng lực lượng chờ thời cơ đánh giặc.

Người Nùng đã nghĩ ra mưu kế chặt cây chuối lừa giặc. Vì cây chuối mọc nhanh chỉ vài ngày đã cao bằng đầu người nên khi giặc Hán kiếm soát truy lùng thấy cây chuối bị chặt lụi đã lại cao thành rừng chúng tưởng người Nùng đã bỏ đi. Trong khi giặc Hán chủ quan, đồng bào Nùng đã bí mật xây dựng lực lượng. Vào một ngày cuối tháng sáu âm lịch trời mưa tầm tã, lợi dụng lúc trời mưa, nghĩa quân đồng bào Nùng đã bằng mọi thứ vũ khí trong tay bí mật vào nơi giặc chiếm đóng giết giặc làm chúng không kịp trở tay. Chỉ trong nửa đêm nghĩa quân đã chiếm lại quê hường lúc trời còn chưa sáng.

Tràn ngập hân hoan thắng giặc, người Nùng đã bàn bạc quyết định tổ chức ăn mừng ba ngày, từ sáng mồng một đến hết ngày mồng ba tháng bảy.

Người Nùng cho rằng nhờ rừng chuối xanh thẳm che chở, nhờ ông trời mưa to gió bão tạo thời cơ cho họ thắng giặc nên từ đó rừng chuối trở thành thần phù hộ- bảo mệnh, người Nùng phải làm lễ cúng tạ ơn rừng chuối, ông trời ngay trước sàn nhà. Lễ cúng phải tổ chức cúng sớm trước khi trời sáng để tuyên bố chiến thắng của mình với ông tổ tiên.

Trải qua năm tháng lịch sử với biết bao thế hệ con cháu, nhiều tập tục trong lễ tết đã mai một không còn duy trì được. Song riêng bản thân lễ tết hầu như vẫn duy trì tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đặc biệt đôi đũa đỏ và xôi bảy mầu vẫn còn duy trì gắn liền với mỗi người Nùng và chỉ tết tháng bảy mới làm mà thôi.

http://egov.laocai.gov.vn/home/vn/

LỄ TẾT ĐÔNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN XÃ Ý TÝ HUYỆN BÁT XÁT

Bước vào một mùa đông giá rét cũng là lúc người Hà Nhì đen ở Ý Tý tổ chức đón Tết đông định kỳ vào tháng 11 âm lịch hàng năm. Mục đích chính của tết này là tổng kết quá trình lao động trong năm đồng thời dâng các lễ vật cúng tổ tiên để cầu mong năm mới “người yên vật thịnh”.

Tết đông được diễn ra trong 3 ngày:Tỵ, Ngọ và Mùi. Đây là lễ tết to nhất và quan trọng nhất đối với cộng đồng người Hà Nhì đen. Được tổ chức theo hộ gia đìnổctng phạm vi cả tộc người Ý Tý

1. Ngày lễ thứ nhất

Ngày tết, theo phong tục gia đình nào cũng mổ lợn to nhất. Lợn phải là lợn đực có màu lông đen. Trước khi mổ chủ nhà làm lý thông báo cho tổ tiên biết, lợn được khiêng vào trong nhà để trên sàn gỗ gian chính. Người Hà Nhì đen quan niệm, con cháu khi làm cúng phải đưa lễ vật vào trong nhà thì tổ tiên mới nhìn thấy sang năm mới phù hộ tốt cho gia đình con cháu. Trước khi chọc tiết phải lấy nước sạch làm lý tẩy uế dội ở chỗ đầu, cổ và phía đuôi. Lấy một con dao nhọn xiên mũi dao qua giữa tàu lá chuối để chọc cho tiết khỏi phun ra ngoài. Ông chủ cắt để riêng, phần thịt làm lý cúng tổ tiên gồm nửa miếng tim, nửa gan, một miếng thịt nạc.

Ngày lễ đầu tiên chủ các gia đình làm lý cúng tổ tiên 3 lần vào buổi sáng, trưa, chiều trước bữa ăn cơm. Buổi sáng, ông chủ mặc quần áo mới đầu cuốn khăn đen và dọn sạch bàn thờ để dâng lễ vật thờ cúng. Bàn thờ bằng gỗ được đặt ở góc phải gian giữa, gần bếp nấu ăn của gia đình.

Chủ nhà lấy ống rượu rót vào một chiếc bát sứ nhỏ, sau đó rửa sạch tay để chuyển các lễ vật lên nóc tủ. Trước tiên phải đưa đèn dầu lên trước, sau đó là 4 gồm: bát rượu và nước gừng ở phía trong, bát thịt và bát cơm có đặt bánh dày trên phía bên ngoài, đặt đôi đũa trong mâm. Khi ông chủ hành lễ, tất cả con cháu họ hàng có trong nhà phải đội mũ hoặc cuốn khăn đen, không được đi giầy dép, quàng khăn màu trắng vào quỳ trước bàn thờ hoặc quỳ tại nền sàn gỗ. Chủ cúng thực hiện hai động tác cúng như sau:

– Động tác 1: Quỳ hai gối, 2 tay chống xuống đất dập đầu lạy 3 lạy có ý nghĩa mời tổ tiên, bố mẹ, ông bà về nhà ăn tết cùng gia đình con cháu.

– Động tác 2: Đứng thẳng người lên, hai lòng bàn tay chắp vào nhau tạo thành hình lòng thuyền mời 3 lần từ phía dưới lên có ý nghĩa mời tổ tiên về rửa mặt, chân tay rồi ngồi vào mâm ăn uống. Cầu mong sự phù hộ tốt cho gia đình con cháu luôn mạnh khoẻ, làm ăn phát triển, chăn nuôi được nhiều trâu, ngựa, lợn, gà… trồng trọt được nhiều lúa, ngô, khoai, đậu…

Chủ nhà lạy tổ tiên xong tất cả các anh em trong gia đình cũng phải lạy tương tự. Sau đó ông chủ chuyển mâm lễ vật xuống nơi đôi thớt thờ đã để sẵn, rồi đưa cho bà vợ bát đựng muối để vợ làm lý vẩy muối vào chỗ tảng đá thần gần bếp. Tiếp theo, bà lấy một ít bánh cho vào đầu trên tảng đá với ý nghĩa cho thần bếp ăn và hai miếng đặt hai bên cửa bếp lò để thần phù không cho hoả hoạn

Khi chủ nhà cúng mời tổ tiên ăn uống xong phải rót rượu mời người nhiểu tuổi nhất trong gia đình ăn uống trước, sau đó mới chia cho vợ, các con trai gái, anh em họ hàng vào lạy tổ tiên tất cả đều được chia lộc. Khi chia thức ăn người nhận phải xoè hai lòng bàn tay nhận có ý nghĩa cảm ơn.

Trong ngày tết, thường chế biến các món sau: Tiết canh lợn, lòng xào, thịt lợn luộc, lòng luộc, gừng xào lòng già, rau cải luộc, canh đậu đỗ đỏ… uống rượu nếp ủ hoặc rượu gạo. Trong ngày tết này, chủ các gia đình thường xuyên đến mừng vui chia sẻ cùng các gia đình trong bản để chia ngọt sẻ bùi, chúc năm mới sức khoẻ và hạnh phúc

2. Ngày lễ thứ 2

3. Ngày lễ thứ 3

Ngày thứ 3 là ngày lễ tổng kết, gia đình làm cơm cúng mời tổ tiên ăn uống rồi tiến đưa tổ tiên về nơi ở cũ. Lễ vật buổi cúng cuối cùng cũng giống như buổi lễ hôm đầu tiên.

Ngày này chủ nhà cùng với vợ dậy sớm giúp nhau làm đồ lễ. Khi đã chuẩn bị xong, chủ nhà thay quần áo mới, đầu quấn khăn đen, bà vợ cũng ăn mặc trang phục truyền thống dân tộc đóng vai trò phụ giúp cho chồng. Bà chủ bê đưa cho chồng một chậu nước sạch đầu nguồn để rửa các đồ lễ trong giỏ trước khi cúng. Đầu tiên, ông rửa đôi thớt thờ, rồi đến 5 chiếc bát, đũa, dao thái. Trước đó ông thắp đèn dầu để phía trên đầu mép chiếu đã trải, sau đó thái thịt thành miếng nhỏ chia vào bát, đổ ống rượu ngâm vào một chiếc bát, rồi chuyển lễ vật lên trên nóc tủ. Khi cúng ông cũng thực hiện hai động tác như 2 ngày trước nhưng nhanh mạnh và dứt khoát; sau đó đứng lên chắp hai tay thành lòng thuyền đưa từ dưới lên 3 lần với ý nghĩa mời tổ tiên bố mẹ vào mâm ăn uống.

Trong khi chủ nhà cúng các thành viên khác trong gia đình phải có thái độ trang nghiêm không cười nói đùa cợt, nếu có khách là người dân tộc khác thì không được nói vì sợ tổ tiên nổi giận trừng phạt do không phải là người Hà Nhì. Tất cả các thành viên con cháu trong nhà đều phải lạy tạ cảm ơn tổ tiên. Cúng xong chuyển lễ vật xuống và chia rượu, thức ăn cho người già nhiều tuổi nhất, rồi theo thứ tự từ vợ, các con trai con gái, người nhận hai tay đón lấy cho vào miệng luôn và cảm ơn chủ nhà. Sau đó bày dọn cơm ăn uống vui vẻ chúc nhau lời chúc tốt đẹp nhất và tiễn ông bà trở về thế giới trường tiên.

Theo http://www.laocai.gov.vn

LỄ TẾT NHẢY CỦA DÂN TỘC DAO ĐỎ TẢ PHÌN

Dân tộc Dao là một dân tộc còn lưu giữ được khá nhiều vốn văn hóa dân gian truyền thống, bao gồm kho sách cổ, tranh thờ. Song ở dân tộc Dao đặc biệt còn bảo tồn nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống: lễ cấp sắc, lễ lập tịch, lễ tết nhảy…

Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập và giới thiệu về nghi lễ”giàng chảu đao”, có nghĩa là lễ tết nhảy. Từ”giàng chảu đao”dịch theo nguyên nghĩa là”bước nhảy dài”, song nghi lễ này tổ chức vào dịp tết nên mọi người gọi là lễ tết nhảy.

Trong việc tổ chức lễ tết nhảy, nếu dòng họ nào làm thì phải tổ chức nghi lễ trong ba năm liên tục, và ở trong một bản khi có một dòng họ tổ chức lễ tết nhảy thì các họ khác đều không được làm, dòng họ nào có nhu cầu tổ chức nghi lễ này phải đợi sau ba năm mới được là m.

Kết thúc các điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên, thần linh, cả dòng họ làm lễ rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên cũng là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc độc đáo của người Dao. Tượng được chạm khắc đẹp với trang phục thời cổ xưa, dài 20-25 cm, đường kính thân 5cm, bàn tay phải của các tượng đều cầm thẻ bài. Ngày thường tượng được bọc kín bằng vải trắng. Ngày tết được con cháu rước xuống làm lễ tắm gội, thay khăn choàng mới. Nước tắm là thứ nước thơm chế từ vỏ loại cây”sum mụ”.

Sau lễ tắm gội cho tượng, con cháu lại tổ chức các điệu nhảy, dâng gà. Thầy cả và ba thanh niên tay cầm gà trống đỏ, vàng nhảy theo nhiều động tác dâng gà, có động tác rước gà trên đầu, có động tác”vác”gà qua hai vai, có động tác vừa múa vừa vặt đầu gà… Kết thúc là điệu múa cờ.

Tết nhảy diễn ra suốt từ cuối giờ Thìn đến giờ Dậu và tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian, nghệ thuật nhảy múa, nghệ thuật âm nhạc và nghệ thuật ngôn từ, kể về công lao tổ tiên đến nghệ thuật tạo hình với các loại tranh thờ, tranh cắt giấy, điêu khắc tượng gỗ…

http://vanhoalaocai.vn

NÉT ĐẸP TRONG LỄ HỘI LỒNG TỒNG, CÁC ĐIỆU XÒE TRUYỀN THỐNG CỦA VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÀY

Để tìm hiểu về những nét đẹp văn hoá trong các điệu xoè truyền thống và lễ hội xuống đồng của đồng bào dân tộc Tày, trong những ngày đầu xuân chúng tôi tới thăm gia đình ông Vàng Văn Xương thôn Na Hối Tày xã Na Hối.

Xoè… xoè… Cây lúa thành bông

Xoè… xoè… Cây ngô thành bắp

Xoè… xoè… Trai gái thành đôi

Và lễ hội lồng tồng cùng các làn điệu xoè của người Tày ra đời từ đó.

Cho đến bây giờ, Lễ hội lồng tồng là lễ hội lớn nhất của đồng bào Tày ở Tà Chải và Na Hối. Ðây là lễ hội cúng thần nông của đồng bào. Trong ngày hội, phần lễ tương đối đơn giản. Giữa bãi rộng, người ta dựng một cây nêu bằng cây bương to, có gắn một vòng tròn dán giấy đỏ (biểu tượng mặt trời). Dưới chân cây nêu là những mâm lễ của làng và của các gia đình thành kính dâng lên cúng thần, báo cáo thành quả trong một năm lao động sản xuất, cảm ơn thần nông đã phù hộ, mời thần về dự hội với con cháu… cầu mong cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi… Về mặt hình thức, các mâm lễ không bắt buộc phải có sơ hào hải vị, nhưng bắt buộc mỗi thôn phải có mâm lễ riêng của thôn mình. Mỗi mâm lễ cúng thường có xôi ngũ sắc, bỏng ngô, một con lợn con hoặc một thủ lợn… tuỳ vào lòng thành và điều kiện của thôn để dâng lên cúng thần. Điều đặc biệt trong ngày lễ, thầy cúng phải là người có uy tín trong bản, biết bài cúng và gia đình trong năm trước phải làm ăn phát đạt, không có điều tiếng… Sau lễ cầu khấn, ông chủ lễ hội gióng lên hồi chiêng bắt đầu phần hội. Lễ hội Lồng tồng được tổ chức hằng năm đều tạo nên những mục đích, ý nghĩa thiết thực đối với vùng đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn huyện.

Cùng với việc thực hiện đề án phát triển du lịch đoạn 2005 – 2010. Xoè Bắc Hà được huyện xác định là một trong những mục tiêu cần bảo tồn và phát triển để thu hút du khách đến với Bắc Hà. Bên cạnh đó, nét đẹp trong các làn điệu xoè truyền thống đã trở thành nét văn hóa tiêu biểu, đặc trưng được lựa chọn biểu diễn trong các hoạt động lớn của huyện. Với mục tiêu phát triển du lịch theo hướng khai thác các lợi thế, trong đó chú trọng vào phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc. Thời gian qua cấp uỷ, chính quyền và các cơ quan chuyên môn của huyện đã và đang có những biện pháp tích cực trong việc gìn giữ, phát triển lễ hội và các điệu xoè truyền thống. Có thể khẳng định, với những hoạt động phong phú, hấp dẫn, lòng mến khách của đồng bào các dân Tày cùng với những nét đẹp trong lễ hội Lồng tồng, nét đẹp trong điệu xoè truyền thống đã góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch, thu hút du khách và các nhà đầu tư đến với Bắc Hà.

Theo egov.laocai.gov.vn

NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

Thiếu nữ trong mùa xuân. Ảnh: Hải Sâm

Mỗi mùa xuân về, đồng bào các dân tộc chuẩn bị để đón tết đầm ấm. Ngay từ ngày 23 tháng Chạp, mọi nhà đều chuẩn bị mâm cỗ thịnh soạn để tiễn ông Táo về trời báo cáo một năm làm ăn phát đạt và dọn dẹp nhà cửa đón năm mới đến.

Khác một số dân tộc, người Dao Tuyển không thờ ông Táo nên không khí ngày Tết chỉ thực sự bắt đầu từ ngày 28 tháng Chạp. 28 tết, đồng bào giết lợn để chuẩn bị thực phẩm phục vụ 3 ngày tết. Ngày 29, cả gia đình tất bật mỗi người một công việc chuẩn bị gói bánh chưng. Sáng 30, mọi thành viên trong gia đình dậy rất sớm để dọn bàn thờ và dâng lên tổ tiên những bánh chưng gù thơm ngon nhất.

Theo phong tục, ngày Tết người Dao Tuyển chỉ cúng tổ tiên bằng bánh chưng đen được làm rất cầu kỳ: lấy cây lúc lắc phơi khô, đốt thành than rồi cho vào cối giã mịn và lấy bột than đó ngâm gạo. Sau khi cúng xong, đồng bào dọn sạch bàn thờ và lót bằng lá chuối, buổi chiều thì chuẩn bị làm bánh mật để cúng vào sáng mùng một. Tối 30, mọi người trong gia đình đều tắm sạch và thay quần áo mới để mùng một đi vui xuân (quan niệm rằng mọi người phải trong sạch để đón năm mới). Việc thắp hương vào đêm tất niên thì người phụ nữ không được phép dâng hương cúng tổ tiên. Nếu trong gia đình không có đàn ông, phải nhờ anh em, họ hàng. Và trên bàn thờ vào đêm 30, ngày mùng một, rằm tháng giêng bao giờ cũng sáng ánh đèn dầu (ngọn lửa tượng trưng cho sự ấm cúng, sung túc và bình an). Theo quan niệm của người Dao Tuyển thì tất cả sự sống là để nuôi con người nên ngày mùng một họ ăn chay và không sát sinh.

Không khí ngày Tết của đồng bào dân tộc Dao Tuyển chỉ thực sự sôi động bắt đầu từ mùng một. Sau khi cúng tổ tiên, tất cả đồng bào tập trung tại nhà già làng ăn mừng năm mới và đi chơi xuân. Nhưng có lẽ điều vui nhất và hấp dẫn nhất trong dịp tết là những buổi hát giao duyên giữa trai gái các làng với nhau (hát qua làng). Đây cũng là cơ hội cho những người yêu nhau nhưng không lấy được nhau có cơ hội ôn lại những kỷ niệm.

Từ mùng hai đến mùng mười, trai gái người Dao Tuyển say sưa với những điệu hát giao duyên mang đậm nét văn hoá của dân tộc. Gần đến tết, các làng đều gửi phong hàm cho nhau để cử người hát hay ra đón và hát đáp lại (phong hàm gồm có 3 viên thuốc lào kèm 3 cặp đồng xu để xin già làng, trưởng bản, người cúng làng cho trai gái hát giao duyên). Những lời ca được nối tiếp nhau. Những cuộc hát giao duyên có thể kéo dài thâu đêm suốt sáng, cũng có thể từ ngày này sang ngày khác, khi hát họ như hoà mình vào từng làn điệu để cảm nhận sự da diết, đắm say ngọt ngào, đậm sắc văn hoá dân tộc…

http://baolaocai.vn

TẾT NGƯỜI MÔNG Ở SI MA CAI

KTNT – Dọc con đường từ Bắc Hà lên huyện Si Ma Cai (Lào Cai), thi thoảng chúng tôi lại bắt gặp từng tốp thiếu nữ người Mông xúng xính trong váy áo rực rỡ, tiếng cười trong trẻo như xua tan cái giá rét của mùa đông. Hoa mận, hoa mơ nở trắng hai bên đường như báo hiệu xuân mới đã về trên mỗi bản làng..

. “Tôi nuôi con lợn đãi khách này từ đầu năm đấy”!”, ông Lý Páo Lềnh ở thôn Mào Sao Phìn, xã Sín Chéng (Si Ma Cai) nói. Bên mâm cơm đủ xôi trắng, lợn cắp nách và rượu ngô thơm nồng, giọng ông Lềnh ngà ngà: “Năm nay, gia đình tôi thắng to, vừa bán được nhiều lợn, gà, ngô, lúa, lại vừa làm dịch vụ xay xát, thu mua nông sản nên thu nhập đạt trên 40 triệu đồng”. ông Lềnh kể, cách đây 7 – 10 năm, cuộc sống của người Mông ở Si Ma Cai khó khăn lắm, quanh năm ăn cơm trộn ngô, sắn hoặc mèn mén. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng nhiều chính sách hỗ trợ như Chương trình 135 và 134, Dự án giảm nghèo…, đời sống đồng bào đã đổi thay. Xã Sín Chéng có 7 thôn thì 100% thôn có đường cấp phối, nhiều gia đình đã có ti vi, xe máy.

Trên đường đến chợ Cán Cấu, trong sương mù dày đặc, chúng tôi vẫn thấy hoa ban, hoa mận nở trắng khoảng rừng. ông Đỗ Minh Lương, Phó chủ tịch UBND huyện Si Ma Cai cho biết: “Mặc dù đời sống còn khó khăn, nhưng mỗi khi Tết đến Xuân về, bà con vẫn tấp nập ngoài chợ. Ngoài những món đặc sản như lợn cắp nách, thắng cố, thịt gà đen… ngày Tết của người Mông ở Si Ma Cai không thể thiếu bánh dày”. Chị Giàng Thị Mai hồ hởi đưa chúng tôi nếm thử chiếc bánh được gói trong lá chuối tây vẫn còn nguyên màu xanh non và nói về cách làm bánh: “Nguyên liệu chính làm bánh dày là gạo nếp nương, đãi sạch rồi đồ từ 2 – 3 giờ cho dẻo. Sau đó mang ra máng gỗ dùng chày giã nhuyễn. Giã xong, đổ ra mẹt đã láng lòng trắng trứng gà để chống dính. Sau khi khấn ma nhà và Giàng (Trời), có thể tha hồ thưởng thức bánh”. Khi ăn, người Mông thường dùng dao xắt thành từng miếng rồi rán trong chảo mỡ nên rất thơm ngon.

Người Mông ăn Tết theo lịch của riêng mình (lịch chia làm 12 tháng, không có tháng nhuận). Tết thường diễn ra trong 5 ngày (từ mùng 1 – 5/1). Ngày 30/12, bà con mổ gà, lợn cúng giao thừa, đặc biệt, nhà nào cũng phải có vài ba xâu thịt treo trong nhà để đãi khách. Mùng 1, đồng bào chỉ cúng thịt gà và ăn các món chế biến từ thịt gà. Bàn thờ tổ tiên của người Mông thường đặt ở chính giữa nhà cùng tờ giấy trang trí các hình thù biểu hiện cho sức khỏe dán lên tường. Mỗi lần thắp hương, ngoài con gà luộc, hai chiếc bánh dày, hoa quả, người Mông còn để cuốc, xẻng, cày, bừa, rìu… bên cạnh bàn thờ để cầu mong năm mới mùa màng thắng lợi. Họ quan niệm, dụng cụ lao động cũng giống như con người, cũng cần nghỉ ngơi thì mới có đủ sức khỏe làm việc.

Ngày Tết, một trong những hoạt động hấp dẫn nhất của người Mông ở Si Ma Cai đó là lễ hội Gầu tào. Hội thường được tổ chức trên một bãi đất rộng, bằng phẳng. Từ sáng sớm, những cô gái Mông váy đỏ, váy xanh sặc sỡ, da trắng hồng, mắt đen láy đã tung tăng đến hội xem ném còn, đu tiên, múa giáo, múa sinh tiền, thổi khèn, bắn nỏ, đẩy gậy, hát giao duyên… Các trò chơi thường kéo dài đến hết tháng Giêng.

Là một trong những cô gái Mông có giọng hát hay và lảnh lót nhất bản nên năm nào chị Mai cũng là nhân vật chính trong tiết mục hát giao duyên. Hát giao duyên thường gồm 2 tốp nam nữ, mỗi tốp đứng ở một đầu sân, cách nhau khoảng 40 – 50m. Từng tốp cử ra người hát hay nhất để đối đáp với bạn, những người bên cạnh hò reo, cổ vũ. Nét độc đáo trong hát giao duyên của người Mông là mỗi người cầm một ống tre (chảng sung thản chồ), nối với sợi dây dài bằng khoảng cách giữa hai đầu sân, mỗi bên cầm một đầu rồi hát. âm điệu lời hát vọng vào ống tre nên người ở bên kia dù cách mấy trăm mét vẫn nghe rõ từng lời từng ý.

Tết của người Mông cũng là dịp để các đôi trai gái tìm hiểu lẫn nhau thông qua trò ném quả vải. Chàng trai ném quả vải về hướng cô gái mình thích, nếu cô gái đó bắt quả vải đồng nghĩa với việc ưng thuận. cô gái cũng có thể làm ngược lại. Nhiều đôi trai gái trong bản nhờ đó đã nên vợ, nên chồng.

Đặc biệt, đồng bào ở đây rất mến khách, họ quan niệm rằng, ngày Tết có ai đến chơi thì cả năm sẽ gặp may mắn nên đón tiếp rất chu đáo. Khi ra về, họ còn tặng 2 chiếc bánh dày làm quà.

http://www.kinhtenongthon.com.vn

TIẾNG KHÈN HUYỀN DIỆU ĐÊM SAPA

Sapa một thiên đường nhỏ; hoang sơ, e ấp nhưng cũng vô cùng rực rỡ giữa đại ngàn vùng Tây Bắc của tổ quốc Việt Nam. Chinh phục du khách không chỉ bởi vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, mà Sapa còn là sự lôi cuốn bởi những sắc màu văn hóa của các tộc người anh em : H’Mông, Dao,Tày, Thái, Xá Phó… đang cùng sinh sống ở đây.

Đặc biệt đến với Sapa ngày cuối tuần du khách sẽ được thưởng thức và khám phá những giai điệu đặc sắc của tiếng khèn tìm bạn, đã được các chàng trai người H’Mông tấu lên trên phố đêm Sapa.

Người H’Mông quan niệm rằng: đã là con trai người H’Mông thì dù còn trẻ hay đã già thì trên người lúc nào cũng phải có cây khèn. Qua cây khèn, tiếng khèn, cách chàng trai đó thổi khèn mà cho thấy được sức mạnh về thể chất cũng như thể hiện được rằng người con trai đó có đời sống văn hoá tinh thần mạnh mẽ đến nhườn g nào.

Còn nếu con trai người H’Mông không biết thổi khèn, không biết múa khèn và không có võ thuật thì có nghĩa con trai người H’Mông đó tầm thường do vậy ngươi mông đi đâu rất tự hào về việc múa khèn và thổi khèn của mình.

Trải qua thời gian, cuộc sống nay đã có nhiều đổi thay, nhưng tình yêu và sự gắn bó của người con trai H’Mông với cây khèn vẫn vậy; Tiếng khèn tìm bạn của các chàng trai H’Mông hôm nay đã không chỉ khiến các cô gái H’Mông nghe qua phải đỏ mặt, phải say đắm để rồi không thể kìm lòng đã tự nguyện xòe ô để xoay theo vòng múa; mà những giai âm ấy còn đánh thức tiếng lòng của biết bao du khách từng đến với sapa

Tình yêu của người H’Mông là vậy, bắt nguồn từ tiếng khèn thật giản dị nhưng cũng vô cùng lãng mạn. Tạo nên nét văn hóa trữ tình độc đáo trên những vùng đất nơi rẻo cao, tạo nên những đêm Sapa huyền diệu, những đêm cuối tuần khó quên trong lòng du khách đến với Sapa.

http://www3.tuoitre.com.vn

Khi hoa mận nở trắng các sườn núi cao nguyên Bắc Hà báo hiệu một mùa xuân đã về khắp các bản làng. Người Phù Lá tạm gác lại phía sau mọi lo toan để chuẩn bị đón mừng năm mới.

http://portal.laocai.gov.vn

TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI DAO BẮC HÀ

Cưới hỏi là một phong tục không thể thiếu ở tất cả các dân tộc. Đồng bào Mông có tục “kéo vợ”, tục “buộc chỉ cổ tay”; đồng bào người Giáy thì cô dâu phải mắc màn nằm ngoài sân trong những ngày diễn ra lễ cưới, sau 3 ngày mới được vào nhà… Còn đồng bào người Dao ở Bắc Hà việc cưới xin lại có nét riêng.

Khi đôi trai gái quen nhau, mến nhau và họ đi đến quyết định xây dựng hạnh phúc lứa đôi thì gia đình nhà trai sang nhà gái tiến hành thủ tục hỏi vợ cho chàng trai và đi đến lễ cưới phải qua 2 lần làm lễ ăn hỏi. Lần thứ nhất đi ăn hỏi, nhà trai chỉ có bố, mẹ hoặc anh, chị của chàng trai mang theo 3 đôi đồng xu để “làm lý” (để cho bố cô dâu mẹ cô dâu và cô dâu tương lai mỗi người một đôi). Trong lần ăn hỏi này, gia đình nhà trai sẽ tìm hiểu xem gia đình nhà gái có chấp thuận cho đôi trai gái được phép tìm hiểu, lấy nhau không và xem gia đình nhà gái có bao nhiêu người để tiện việc chuẩn bị những đôi đồng xu cho những người đó trong lần ăn hỏi thứ hai.

Lần thứ 2 ăn hỏi thì nhà trai đến nhà gái cùng với một người làm mai mối và những đồng xu để đủ tặng cho những người trong gia đình nhà gái. Tại nhà gái sẽ mời một người làm chứng để nghe ý kiến, dự định ngày cưới cho đôi trai gái, người này cũng được nhà trai tặng cho 1 đôi đồng xu.

Sau khi thống nhất ngày cưới thì 2 gia đình bàn việc đi ở của hai con. Theo tục lệ thì chàng trai sẽ phải đi ở rể nhà gái hoặc cô gái đi ở nhà trai từ 1 đến 2 năm, nếu thấy ưng ý và hợp nhau thì mới tổ chức đám cưới như dự định. Đây cũng chính là mốc đánh dấu thời gian tìm hiểu nhau của đôi trai gái. Việc “đi ở trước ngày cưới” giúp cho đôi trai gái tìm hiểu nhau kĩ hơn, thực sự hiểu và yêu nhau, tâm đồng ý hợp, lấy nhau làm vợ chồng gắn bó với nhau như đôi chim trên rừng.

Để mời họ hàng, người thân, cũng như bạn bè của cô dâu, chú rể đến dự lễ cưới, cả 2 gia đình nhà trai, nhà gái phải thu nhập rất nhiều đồng tiền xu được lưu truyền từ những thế hệ trước để khi đến mỗi nhà họ phải có 2 đồng xu mang ra tặng chủ nhà. Tiền xu có hình tròn, làm bằng đồng đen, có lỗ xỏ hình vuông ở giữa, khắc hoa văn và những chữ nổi ở trên mặt. Đây không chỉ là những đồng tiền dùng để mua bán, trao đổi hàng hóa mà nó là sản phẩm văn hóa tinh thần chỉ được sử dụng làm nghi lễ cho việc mời cưới của người Dao. Điều đặc biệt là cứ đến mỗi gia đình để mời cưới thì họ để lại 2 đồng tiền xu ấy cho chủ nhà (nó tượng trưng như tấm thiệp mời đám cưới của người kinh), nhưng luôn luôn phải có đôi.

Việc mời cưới bằng 2 đồng tiền xu có ý nghĩa như một căn cứ để xác định cũng như thông báo với mọi người rằng đôi trai gái kia sắp thành vợ thành chồng. Hai đồng tiền xu luôn đi kèm với nhau tượng trưng cho đôi trai gái yêu nhau, họ đã sánh đôi, luôn hạnh phúc bên nhau.

Đến lễ cưới, gia đình nhà gái chỉ thách cưới nhà trai 1 đôi gà sống đẹp, 1 lít rượu ngon để làm thủ tục lễ bái tổ tiên gia đình mình. Nhà trai đến nhà gái đón dâu từ tối hôm trước. Mọi người đến dự lễ cưới đều mặc trang phục truyền thống. Đôi trai gái mặc bộ trang phục đẹp nhất, mới nhất. Sau khi làm lễ cúng gia tiên, thần linh cho đôi trai gái thì khách được mời ngồi vào mâm cơm cỗ thưởng thức món ăn truyền thống và uống rượu suốt đêm, ca hát mừng hạnh phúc cho đôi trai gái.

Đến sáng hôm sau nhà trai đón dâu về. Đại diện (trừ bố, mẹ cô dâu) cùng đi với đoàn rước dâu. Nhà gái gói những gói cơm có đầy đủ thức ăn vào lá chuối tươi để cho đoàn rước dâu đi đường xa ăn dọc đường. Nếu hai gia đình ở gần nhau thì nhà gái vẫn phải gói ít nhất một gói cơm gửi cho nhà trai mang theo để thể hiện sự quan tâm. Khi đến nhà trai, việc đầu tiên mà cô dâu và chú rể phải làm là quỳ trước ban thờ làm lễ báo cáo tổ tiên, thần linh.

Gia đình nhà trai mời một thầy cúng giỏi nhất vùng để làm lễ cho đôi trai gái chính thức làm vợ chồng của nhau. Lễ cưới tại nhà trai được tổ chức trong suốt một ngày một đêm hôm ấy những lời chúc tốt đẹp, trong men rượu nồng nàn hương vị tình yêu. Những người đến dự đám cưới chúc phúc cho đôi trai gái và mừng tiền luôn gói trong phong bì sốt tiền phải có 2 tờ giống nhau chứ không bao giờ 1 tờ hoặc nhiều hơn 2 tờ. Thể hiện mong muốn cho đôi trai gái kia luôn hạnh phúc, có đôi, quấn quýt với nhau như cặp tiền gia đình trở về để báo cáo mọi việc đã hoàn tất. Sau đó chú rể xin phép đưa vợ về nhà mình…

Theo http://laocai.gov.vn

TỤC ĐEO VÒNG VÍA CỦA NGƯỜI MÔNG – LÀO CAI

Việc trẻ ốm yếu cúng giải hạn hoặc gửi cửa theo số của nó đều không được thì thầy cúng sẽ xem số và đeo vòng vía cho trẻ. Nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của người Mông hoa ở Cát Cát tương tự như nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của nhóm người Mông trắng ở Bảo Phố – Bắc Hà. Nghi lễ và sự chuẩn bị diễn ra như sau:

Gia đình phải chuẩn bị 3 chiếc vòng cuốn bằng tre có đường kính 1,5m. Họ dựng ngoài cửa 1 vòng, giữa nhà 1 vòng và phần giáp bàn thờ 1 vòng. Họ dùng một tấm vải trắng dài 12m đặt lên trên vòng tre từ cửa chính vào tới bàn thờ. Mâm cúng đặt ở góc phải, phía dưới bàn thờ bao gồm: 3 đôi đũa, 3 bát cơm, 3 chén rượu, 3 chén nước, 1 con gà luộc, 1 gói muối. Trên bàn còn có chiêng, kiếm của thầy cúng. Người nhà còn mời, nhờ một người trung tuổi, con cái khoẻ mạnh đến bế đứa trẻ để tiến hành nghi lễ đeo vòng vía.

Khi thầy cúng bắt đầu việc cúng thì đứa trẻ đứng ở ngoài cửa trên mép vải đặt từ giữa cửa đến bàn thờ. Đầu tiên, thầy cúng cho mời tổ tiên của gia đình về chứng kiến việc làm tốt của thầy cúng cho đứa trẻ. Sau đó thầy cúng mời sư tổ của mình về và xin cho phép mầu để trừ tà diệt ma.

Sau đó, đứa trẻ được người phụ cúng cho bước qua vòng thứ hai. Thầy cúng ngậm một ngụm rượu phun mạnh vào nơi đứa trẻ vừa đứng. Tiếp đến, thầy cúng đọc lời dồn hồn vía cho trẻ từ nay vía không được theo ma xấu. Một tiếng thét của thầy cúng tức là ma đã bỏ chạy và vía đã nhập vào đứa trẻ. Người phụ cúng hai tay đỡ hai vai trẻ và trẻ nhảy qua vòng tre cuối cùng, thầy cúng lập tức cầm vòng vía (cổ, tay, tai) đeo ngay cho trẻ với ý nghĩa là rào vía cho trẻ. Từ nay, hồn vía trẻ sẽ không bỏ đi chơi và ma xấu cũng sẽ không dám bén mảng đến vì đã có vòng vía là thứ vũ khí để trừ tà diệt ma.

Sau phần làm lễ, thầy cúng, phụ cúng và gia đình cùng ăn cơm, uống rượu bình thường. Khi ra về, thầy cúng được bắt một con gà trống và một lít rượu.

Vòng vía được đeo suốt đến lúc già. Trường hợp vòng vía đã đeo tự nhiên rơi hoặc bị mất thì được. Còn nếu người đeo tự tháo ra thì rất có thể họ sẽ bị ốm trở lại.

Theo Báo Lào

VĂN HÓA LỄ HỘI Ở TÀ CHÀI

Bắc Hà là trung tâm du lịch văn hóa – sinh thái thứ hai của tỉnh Lào Cai, sau vùng du lịch Sa Pa. Nơi đây có khí hậu trong lành, mát mẻ đặc trưng ôn đới, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ.

Không chỉ vậy, người Bắc Hà giàu lòng mến khách, truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, giúp Bắc Hà trở thành một điểm đến du lịch văn hóa, sinh thái hấp dẫn. Nói đến du lịch văn hóa Bắc Hà, phải nhắc tới vùng văn hóa đồng bào Tày xã Tả Chải nổi tiếng với lễ hội lồng tồng và những điệu xòe sôi động.

Nền văn hóa dân tộc Tày xã Tả Chải, nhất là văn hóa lễ hội với hội xòe, lễ hội lồng tồng đặc sắc hấp dẫn… mang đậm nét văn hóa dân tộc với sự độc đáo, tinh tế. Ðó chính là thế mạnh để Tả Chải khai thác tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hóa, du lịch văn hóa cộng đồng.

Ðồng bào Tày ở Tả Chải duy trì tổ chức đều đặn các lễ hội truyền thống. Ngoài Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, vào ngày rằm tháng chạp âm lịch bà con tổ chức lễ hội lồng tồng (xuống đồng), 2-2 âm lịch tổ chức lễ cúng rừng, sau vụ mùa vào tháng 10 âm lịch tổ chức lễ cơm mới…

Các lễ hội này đã góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa – văn nghệ dân gian, thể dục – thể thao dân tộc, văn hóa cộng đồng… tăng cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Văn hóa lễ hội chính là nét hấp dẫn khách du lịch nhất của vùng đất này. Lễ hội lồng tồng là lễ hội lớn nhất của đồng bào Tày xã Tả Chải.

Ðây là lễ hội cúng thần nông của đồng bào. Trước đó một tháng, chín thôn, bản và xã Tả Chải đã tổ chức họp bàn chuẩn bị cho lễ hội. Mọi người tập trung ở nhà già làng, trưởng bản hay ở nhà văn hóa cộng đồng tập luyện các điệu múa, các bài hát… Suốt một tháng, khắp các thôn, bản sống trong không khí háo hức chờ đón ngày hội. Vào dịp này, đồng bào Tày xã Tả Chải mời khách ở các thôn, bản khác, các dân tộc khác như Nùng, Mông, Kinh… đến tham gia và dự hội.

Bởi vậy lễ hội thêm tưng bừng, tràn ngập tình đoàn kết giữa các dân tộc. Ði hội, ai cũng sắm cho mình bộ đồ mới, đẹp nhất. Ðặc biệt là các cô gái Tày trong trang phục chàm đen, làn da trắng hồng, mịn màng, các thiếu nữ dân tộc Mông trong trang phục thổ cẩm rực rỡ, hoa văn tinh xảo…

Ðến với lễ hội, du khách thật sự ấn tượng với nét đẹp văn hóa truyền thống tinh tế, độc đáo của đồng bào Tày, nhất là các hoạt động văn hóa – văn nghệ dân gian, hội xòe. Mở đầu lễ hội là phần lễ, các già làng, trưởng tộc, trưởng họ, những người có uy tín nhất trong cộng đồng người Tày dâng mâm cúng bao gồm các sản vật do chính bàn tay lao động cần cù của đồng bào Tày nơi đây làm ra, bao gồm gà trống tơ luộc nguyên con, con lợn cắp nách luộc nguyên con, ngan hoặc vịt luộc nguyên con, hoa quả; chuối, quýt… vàng mã, giấy bảng, hương…

Trong ngày hội, phần lễ tương đối đơn giản. Giữa bãi rộng, người ta dựng một cây nêu bằng cây bương to, có gắn một vòng tròn dán giấy đỏ (biểu tượng mặt trời). Dưới chân cây nêu là những mâm lễ của làng và của các gia đình thành kính dâng lên cúng thần, báo cáo thành quả trong một năm lao động sản xuất, cảm ơn thần nông đã phù hộ, mời thần về dự hội với con cháu… cầu mong cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi…

Sau lễ cầu khấn, ông chủ lễ hội gióng lên hồi chiêng bắt đầu phần hội. Trò chơi ném còn thu hút đông đảo mọi người tham gia. Quả còn được làm bằng vải, buộc nơ, trang trí, thêu rất đẹp. Ai cũng có quyền được ném còn, ai ném trúng được thưởng quà lưu niệm và chén rượu lộc. Sau đó diễn ra cuộc thi ném còn giữa các đội ở chín thôn bản.

Ðồng thời, lễ hội diễn ra các trò chơi như đu quay, đẩy gậy giữa các đội ở các thôn. Các thôn cử ra các chàng trai khỏe mạnh đại diện tham gia. Trong vòng người đông đúc reo hò, cổ vũ, các chàng trai thi đấu hết mình để đem vinh quang cho thôn, bản và thể hiện mình trước các thôn nữ… Tiếp đó là hội diễn văn nghệ. Các đoàn mang đến lễ hội tiết mục văn nghệ đặc sắc nhất để thi tài.

Các điệu múa Tày, múa xuống đồng, múa địu, múa gieo hạt, múa thu hoạch, múa lên nương… thể hiện những nét uyển chuyển, quyến rũ. Các tiết mục ca hát ca ngợi Ðảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước đổi mới, đặc biệt là hát giao duyên tình yêu lứa đôi, hẹn hò nghe bồi hồi, xao xuyến. Trong lễ hội, trai gái gặp nhau làm quen, tìm hiểu, thử tài nhau qua các hoạt động văn hóa – văn nghệ, tỏ tình, hẹn hò nhau trong các buổi chợ phiên…

Kết thúc lễ hội vào buổi hoàng hôn là hội xòe, sau khi đốt một đống lửa to, tất cả mọi người tay nắm chặt tay hòa mình vào điệu xòe. Lễ hội lồng tồng của đồng bào Tày được tổ chức đều đặn vào ngày rằm hằng năm đã tạo ra sân chơi vui vẻ, lành mạnh, ý nghĩa vào dịp Tết, quảng bá văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giúp mọi người hướng về cội nguồn dân tộc.

Lễ hội đã trở thành điểm nhấn văn hóa hấp dẫn khách du lịch tới tham quan, tham gia, tìm hiểu nét đẹp văn hóa lễ hội. Ðiệu xòe Tả Chải được tổ chức trong lễ hội lồng tồng hằng năm và các ngày vui của đồng bào Tày đã trở nên nổi tiếng.

Du khách đã đến Bắc Hà ai cũng muốn xòe. Chính vì vậy, các nghệ nhân văn hóa ở thôn Na Kim, điển hình là gia đình ông Vàng Seo Pao đã truyền dạy cho các thanh niên nam nữ trẻ điệu múa, điệu trống, kèn, hát giao duyên, thành lập đội xòe. Khách sạn Sao Mai, khách sạn lớn nhất của Bắc Hà, đã thuê đội xòe biểu diễn phục vụ khách du lịch vào 21 giờ tối đến 21 giờ 30 phút hoặc 22 giờ các tối ngày thứ bảy và chủ nhật phục vụ khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.

Không chỉ có lễ hội lồng tồng, hội xòe, đồng bào Tày xã Tả Chải còn tổ chức nhiều lễ, hội khác như lễ cúng rừng vào ngày 2-2 âm lịch và lễ cơm mới vào tháng 10 âm lịch sau khi thu hoạch vụ mùa. Trong ba ngày liên tục, các bản cấm người lạ, người trong thôn vào rừng và trong ba ngày mọi người nghỉ việc đồng áng. Mỗi thôn đồng bào đều làm miếu ở khu rừng cấm của thôn cúng thần rừng vào ngày 2-2 âm lịch.

Ngày lễ đến, các gia đình góp tiền mua đồ cúng, thức ăn. Mâm cúng cũng gồm con gà, con lợn, con ngan để nguyên con sống, chọc tiết cúng thần rừng, sau đó luộc chín cúng cùng mâm ngũ quả. Các cụ cao tuổi có uy tín nhất thôn, bản thay mặt đồng bào cúng tế thần rừng, báo cáo thành quả, mời thần rừng nhận lễ cảm ơn, cầu mong thần rừng phù hộ, xua đuổi tà ma, thú dữ, giữ cho thôn bản yên bình. Sau đó mọi người thắp hương, cùng thề bảo vệ rừng, trồng rừng và bàn bạc thống nhất các quy định bảo vệ rừng. Ðây là lễ hội có ý nghĩa góp phần bảo vệ và phát triển rừng, giữ cho thôn bản xanh tươi, trù phú, ấm no.

Sau gần một năm lao động sản xuất vất vả, thu hoạch ngô, lúa xong, vào tháng 10 âm lịch, các gia đình xã Tả Chải tổ chức lễ cơm mới, mời anh em, bạn bè, họ hàng về dự. Mỗi gia đình dành một thửa ruộng nhỏ để trồng lúa nếp. Lúa nếp chắc hạt, gặt về giã cốm. Cốm là món ăn ngon và là đồ cúng quan trọng nhất trong mâm cúng cùng với thịt gà, lợn, hoa quả và xôi bảy mầu (xôi bảy mầu được làm từ gạo nếp vo kỹ ngâm với nước mầu được làm từ loại cây mầu mọc ở rừng).

Các gia đình dâng mâm cúng, báo cáo với tổ tiên thành quả sản xuất vụ mùa, dâng lễ cảm ơn tổ tiên, thần nông phù hộ và nguyện cầu vụ mùa tới cây lúa, cây ngô xanh tươi, chắc hạt, bắp to, được mùa, cuộc sống ấm no, phồn thực, con cháu khỏe mạnh thành đạt…

Sau đó mọi người vui tiệc, bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, kinh nghiệm sống, động viên nhau vươn lên trong cuộc sống.

Vùng đồng bào Tày xã Tả Chải nằm tiếp giáp trung tâm huyện lỵ, điểm du lịch văn hóa Mông Bản Phố, có đường giao thông thuận tiện, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hữu tình, khí hậu trong lành, mát mẻ. Huyện Bắc Hà quan tâm đầu tư phát triển du lịch văn hóa, mô hình điểm du lịch cộng đồng ở vùng Mông Bản Phố và vùng đồng bào dân tộc Tày xã Tả Chải và Na Hối để bà con dân tộc Tày, Mông nơi đây đoàn kết, hợp tác làm du lịch và hưởng lợi từ du lịch.

Bắc Hà đã đầu tư triển khai mở và nâng cấp hai tuyến đường du lịch từ trung tâm huyện – Tả Chải – Bản Phố. Sắp tới, huyện tiếp tục đầu tư vốn phát triển làng nghề nấu rượu và dệt thổ cẩm, làng văn hóa Mông Bản Phố, làng văn hóa Tày Na Lo, hồ sinh thái Na Cồ (Tả Chải) phục vụ du lịch.

Ðể bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc xã Tả Chải và đồng bào dân tộc Tày nói riêng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, đặc biệt là bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Tày, văn hóa lễ hội với du lịch bền vững, nâng cao đời sống đồng bào mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống, Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ xã Tả Chải lần thứ 21, nhiệm kỳ 2005-2010 đã xác định Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc gắn với du lịch là nhiệm vụ quan trọng. Phát triển văn hóa gắn với phát triển mô hình du lịch văn hóa cộng đồng là mũi nhọn “đột phá” xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Xã Tả Chải tập trung tuyên truyền, vận động đồng bào ở chín thôn, bản hưởng ứng thực hiện dự án đầu tư xây dựng và phát triển các làng văn hóa – du lịch Tày Tả Chải ở khu rừng cấm Na Cồ, Nậm Cáy… thành lập đội xòe ở 9/9 thôn, bản và đội văn hóa – văn nghệ dân tộc, phối hợp các công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch tổ chức các buổi hội xòe phục vụ khách du lịch.

Phối hợp các xã lân cận như Na Hối, thị trấn, Thải Giàng Phố, Bản Phố, Lầu Thí Ngài và các công ty, tổ chức hoạt động du lịch trong nước và quốc tế, triển khai các chương trình phát triển du lịch như chương trình du lịch văn hóa, du lịch hướng về cội nguồn. Huy động mọi nguồn lực xã hội thực hiện bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Tày, đặc biệt là văn hóa lễ hội.

Ðồng thời chú trọng thực hiện công tác bảo đảm trật tự – an toàn – xã hội, an ninh – quốc phòng luôn ổn định để Tả Chải, vùng đồng bào dân tộc Tày trở thành điểm du lịch văn hóa hấp dẫn.

Theo Nhân Dân

Nguồn egov.laocai.gov.vn

VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ TÀY NGHĨA ĐÔ QUA CA DAO, TỤC NGỮ

Nguyễn Thế Lượng

Không biết tự bao giờ, người Tày ở Nghĩa Đô (Bảo Yên) đã ở vùng đất như lòng chảo giữa dải núi rừng trập trùng. Cũng không biết từ bao giờ, Người Tày ở Nghĩa Đô sáng tác và lưu truyền những câu ca dao, tục ngữ mộc mạc như tấm lòng của người Tày vậy. Có lẽ nhìn bề ngoài của kho tàng văn hóa dân gian như một “trầm tích” còn cất giữ trong đó bao điều bí ẩn thì khó lòng nắm được cái hay và những giá trị lâu đời của kho tàng văn hóa ấy. Vậy mà bất chợt chỉ một lần nghe khi đi qua đám cưới của đồng bào Tày, được nghe một câu hát của bà cụ năm nay đã ngoài 80, tôi mới có cơ hội được khám phá kho “trầm tích” dân gian mà dường như còn nguyên giá trị.

Bà cụ ngồi cạnh bếp lửa, xung quanh là những thiếu nữ Tày mới mười tám, đôi mươi đang chăm chú nghe. Lời kể của bà cụ mộc mạc, giản đơn nghe mà dễ hiểu, dễ nhớ. Cụ nói: “Ngày xưa, người dân Tày nói về vẻ đẹp của người phụ nữ Tày đơn giản lắm vì người Tày không nói được hay và cầu kỳ đâu”. Cụ dẫn ra ngay câu ca dao về vẻ đẹp của cô gái Tày Nghĩa Đô:

“Phụ nữ là lá, là hoa

Là sao đêm sáng, là bầu trời xanh”

Nếu như ca dao, tục ngữ Việt Nam có nhiều cách nói ví von để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa, thì đồng bào Tày Nghĩa Đô cũng có cách ví von về vẻ đẹp về người phụ nữ của dân tộc mình. Nhưng cách nói của người Tày nơi đây có sự mộc mạc đến giản dị trong tư duy, cách nghĩ và cách quan sát của họ. Ví von phụ nữ Tày như “lá”, như “hoa”, như “sao”, như “bầu trời xanh” là cách miêu tả tuy đơn sơ nhưng mang đến vẻ đẹp giản dị, trong sáng. Vẻ đẹp ấy hòa lẫn với vẻ đẹp của thiên nhiên là cách nói rất phù hợp với cuộc sống và môi trường nơi cư trú của người Tày nơi đây.

Đi vào miêu tả chi tiết vẻ đẹp hình thể của người thiếu nữ Tày, bà cụ lại kể tiếp bằng việc đọc tiếp một câu khác:

“Con gái má lúm đồng tiền

Chân trắng bẹ chuối bóc

Tay thuôn bóc măng mọc

Nhiều trai làng chết lăn”.

Đã nói về phụ nữ, người ta không thể không nói về đôi má, đôi bàn tay, rồi bàn chân… Đây là quan niệm rất thật của người dân Tày vùng Nghĩa Đô, nói chẳng có chút văn chương bác học theo quan niệm thẩm mỹ của nhiều người, nhưng lại là cách nói để khẳng định chuẩn mực về vẻ đẹp người phụ nữ. Là con gái thì phải “má lúm đồng tiền” mới xinh, là con gái Tày chân phải trắng như “bẹ chuối” mới bóc, tay phải thuôn như “búp măng” trên rừng già… Vẻ đẹp ấy không có gì xa vời mà được hình thành trong tư duy của người dân qua chính những gì họ nhìn thấy qua chính công việc lao động vất vả.

Kể đến đây, bà cụ cầm cây củi dụi vào bếp cho lửa cháy to hơn rồi nhìn đám con gái một lượt, cụ đọc tiếp:

“Eo thắt đáy con mạ

Má ửng hồng bồ quân

Chân dong dỏng duyên dáng

Tóc uấn dáng duôi gà

Duyên dáng, eo thon và vẻ tràn đầy sức sống trên khuân mặt thiếu nữ Tày được bộc lộ. Thông thường, người ta khen cô gái là rất đẹp, đẹp lắm, nhìn thấy một lần là nhớ mãi, hoặc đẹp thế này, hoặc đẹp thế kia… người Tày Nghĩa Đô từ đời xưa chỉ có mấy câu giản dị vậy thôi nhưng đã nói lên cái đẹp về hình thể, dáng đi, sự hiền hòa toát lên từ cái ửng hồng của khuôn mặt các cô gái miền sơn cước. Người thiếu nữ Tày cũng biết làm duyên, làm dáng qua mớ tóc “đuôi gà”, “má ửng hồng” như “quả bồ quân” mới chín là tín hiệu của cô gái đã trưởng thành, eo của cô gái Tày nơi đây không phải là “thắt đáy lưng ong” như cách nói của người Kinh mà là “thắt đáy con mạ” mới là người phụ nữ vừa đẹp vừa chăm chỉ, vừa khỏe khoắn. Và đôi mắt của người thiếu nữ Tày trong câu tục ngữ “mắt liếc mòn đá suối” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Cách nói quá này đã góp phần miêu tả đôi mắt của người thiếu nữ Tày vừa trong như nước suối, lại vừa sắc sảo có thể làm say đắm những chàng trai trong bản từ phương xa đến. Thế mới biết người thiếu nữ Tày Nghĩa Đô không chỉ đẹp, không chỉ duyên dáng mà còn sắc sảo và khỏe khoắn trong quan niệm hết sức mộc mạc và giản dị của người Tày.

Ngủ chờ mẹ thả gà lên rẫy cũ sườn non

Mẹ thả con vịt xuống cánh đồng ốc hến

Gà ăn thóc vãi no béo mập

Vịt ăn tép, ốc béo đầy bầu

Lấy về mổ thịt cho con ăn”

Có lời ru nào mà mộc mạc đến vậy, dù chẳng có “gió mùa thu”, “thức đủ năm canh”, dù chẳng “lên núi rửa bành con voi”, song lời ru của người mẹ Tày Nghĩa Đô thả gà, thả con vịt con, cho gà ăn thóc, toàn là những công việc lao động hàng ngày gắn với người phụ nữ, qua lời ru, những công việc ấy như in sâu vào trong giác ngủ của những em bé Tày và tâm hồn chúng được lớn lên từ đó. Rồi ngay cả cái dáng địu con (một phong tục của người Tày Nghĩa Đô) cũng được người phụ nữ đưa vào lời ru:

“Chín tháng mẹ địu con ngày trước

Năm năm mẹ cõng con trên lưng

Đằng trước địu bằng da

Đằng sau địu bằng vải”

Thời gian là chín tháng, là 5 năm nuôi dưỡng con bằng tấm địu như in dấu tình mẫu tử, sự chăm bẫm của người mẹ Tày đối với đứa con thơ. Ngay cả trong sâu thẳm tâm hồn người phụ nữ Tày nơi đây, sự hi sinh, sẵn sàng nhịn đói, mặc rách để dành cả tình thương cho con là một trong những phẩm chất ẩn sâu trong trái tim người phụ nữ Tày. Những câu nói giản dị, chân thật mà dường như không thể thật hơn được nữa đã nói lên cả sự hi sinh.

“Mẹ mặc rách, mặc nát

Mong cho con có bát cơm đầy

Mong cho con mặc đẹp bằng chúng bạn”

Cứ như thế, qua lời kể của bà cụ bằng những câu ca dao, tục ngữ của người Tày được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng đã làm toát lên vẻ đẹp tiềm ẩn của người phụ nữ Tày vùng Nghĩa Đô. Mặc dù cuộc sống còn khó khăn, nhưng người phụ nữ Tày Nghĩa Đô từ bao đời nay vẫn giữ được nguyên vẻ đẹp. Sự tần tảo, chịu thương chịu khó, tấm lòng yêu thương chồng con, cho đến vẻ đẹp hình thể được người Tày ca tụng như được cất lên từ nhạc điệu của tâm hồn người dân nơi đây. Nhạc điệu ấy được thoát thai từ chính cuộc sống mưu sinh trải dài theo năm tháng nơi những bản làng mờ sương của vùng đất Nghĩa Đô.

Đêm đã về rất khuya, bà cụ và đám con gái trong bản vẫn còn ngồi bên bếp lửa, bà cụ thôi không kể nữa, đám con gái ngồi im như để chiêm ngưỡng và thưởng thức món ăn tinh thần từ bao đời nay của Nghĩa Đô, ngọn lửa bên bếp thì đang cháy bùng lên làm sáng cả không gian của căn nhà sàn…

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 233. – Ngày 12/12. – Tr. 4

VẺ ĐẸP TRONG TRANG PHỤC PHỤ NỮ TÂY BẮC

Khi đàn chim én bay về đón làn gió ấm mùa xuân. Khi hoa đào, hoa mận nở bừng trong các thung lũng, bản làng, cũng là thời điểm các cô gái vùng cao mặc những bộ váy áo với trang sức thật đẹp, rộn rã cùng nhau đến những phiên chợ Tết để mua sắm và gặp gỡ. Sau một năm lao động chăm chỉ miệt mài, mùa xuân thực sự là mùa của gặp gỡ, mua bán và vui chơi.

Trong mỗi dịp đến chợ xuân, vẻ đẹp của trang phục và đồ trang sức được thể hiện đầy đủ và rực rỡ nhất. Trang sức của các dân tộc thiểu số vùng cao Lào Cai chủ yếu thể hiện vẻ đẹp thẩm mỹ và sự hài hoà với váy, áo, đồng thời cũng mang ý nghĩa tín ngưỡng của truyền thống. Trong nền xanh của núi, nền xanh của chàm cùng với những sắc màu thổ cẩm rực rỡ và hoa văn tinh tế, phụ nữ vùng cao đã làm nên những bộ váy áo tôn vẻ đẹp của mình trước thiên nhiên. Họ đã sử dụng biện pháp gắn hạt cườm, hay đồng xu bạc lên áo, mũ, mang vẻ đẹp độc đáo nhưng đầy tính biểu tượng của vị thần bảo vệ sức khoẻ cho trẻ nhỏ. Nền thổ cẩm rực rỡ ở cổ áo, nẹp ngực, ống tay được sáng lấp loáng nhờ trang sức bạc với hoa văn tinh xảo càng làm tăng thêm vẻ đẹp của trang phục. Đồ trang sức cổ truyền của các dân tộc thiểu số nơi đây chủ yếu làm bằng bạc trắng, đa số là khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, bộ xà tích và nhẫn, đặc biệt là châm cài đầu của dân tộc Nùng Dín. Tuy mỗi dân tộc có kiểu cách hoa văn khác nhau, nhưng có một nét chung rất dễ nhận thấy đó là những đồ trang sức này không thể tách rời khỏi trang phục, mà nó luôn hài hoà, điểm vào trang phục. Trong nền trời mây bàng bạc của hạt sương sa, các phiên chợ thật rộn rã với âm thanh đặc biệt chỉ ở chợ vùng cao mới có. Sắc màu của váy áo thổ cẩm, của trang sức hoà lẫn sắc màu của thiên nhiên, các sản phẩm mang đến chợ thể hiện nét độc đáo rất riêng của vùng đất này vào mỗi dịp xuân về. Nét đẹp và chiều sâu văn hoá ẩn chứa trong mỗi nụ cười của con người vùng cao, trên mỗi trang sức mà họ mang trên người.

Trang sức của dân tộc thiểu số gắn liền với từng lễ nghi và phong tục tập quán của mỗi tộc người, dòng họ. Trong tiết xuân, gia đình người Dao Tuyển làm lễ cúng xin bố mẹ nuôi cho con mình, vì cháu bé đang yếu. Theo quan niệm của dân Dao Tuyển, nếu cháu bé có cha mẹ nuôi cháu sẽ khỏe mạnh. Sau khi nhận chén rượu mừng, họ sẽ buộc vào tay cháu bé một đồng bạc trắng để ngăn trừ gió, và giữ ấm cho cháu bé.

Có thể nói, đối với cư dân vùng cao, trang sức của họ ẩn chứa một khát vọng lớn lao về niềm vui và sức khoẻ. Chính vì vậy, theo quan niệm của người Mông những phụ nữ chăm làm khoẻ mạnh là phụ nữ đeo hoa tai thật to. Từ người già đến con trẻ, đều có trang sức bằng bạc trên người, nó không chỉ thể hiện sự giàu sang mà còn có ý nghĩa sâu xa về việc giữ hơi ấm và ngăn chặn điều dữ theo quan niệm dân gian. Vòng cổ và hoa tai là đồ trang sức ưa dùng của người Mông. Vòng cổ có chu vi từ 45 – 55cm, vòng không khép kín hoàn toàn. Vòng cổ người Mông có hai loại, một loại dùng để làm đẹp, còn loại thứ hai mang chức năng biểu tượng, bảo vệ sức khoẻ, đem may mắn cho con người. Khi mang đồ trang sức bên mình, cư dân Mông luôn tin tưởng, an tâm rằng gia đình họ sẽ luôn khoẻ mạnh, hạnh phúc và sum vầy bên nhau. Chính vì thế, trang sức cũng như ca dao, dân ca, luôn gắn với vòng đời con người từ khi chào đời đến khi tuổi cao. Mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều được đón nhận vào cộng đồng qua những tín hiệu văn hoá của tộc người.

Trang sức bạc là vật không thể thiếu trong đời sống cư dân vùng cao Lào Cai. Chính vì lẽ đó, nghề làm đồ trang sức luôn được lưu truyền từ đời này sang đời khác như lời nhắn nhủ về cội nguồn tổ tiên. Cư dân Mông chủ yếu làm những chiếc vòng bạc có dây xích hai bên, có hình dáng giống trăng lưỡi liềm. Có loại như cuộn dây có 3 sợi bạc cuốn chặt. Có kiểu vòng cổ khắc hoạ hình con chim, hoặc xoáy ốc, dùng để đi dự lễ hội hoặc các lễ cúng đầu năm. Ngày thường, phụ nữ Mông đeo một chiếc vòng cổ, nhưng ngày lễ họ đeo nhiều hơn. Trang sức của các dân tộc Lào Cai cũng có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác.

Nếu những ngày tháng trong năm là công việc của đồng áng, thì mùa xuân lại là thời gian giành cho những phiên chợ và đám cưới. Trong không khí lành mạnh, lòng người dường như được sưởi ấm và bừng lên niềm vui. Vào dịp này các cô gái Dao như hồng lên nét tươi tắn và xinh đẹp hơn, xúng xính trong những bộ váy áo mới cùng nhiều trang sức bạc trên đầu rung rinh theo nhịp bước chân. Mỗi người một vẻ, mỗi trang sức một kiểu cách hoa văn, mỗi loại váy áo một kiểu thổ cẩm đã làm nên một bức tranh xuân đầy màu sắc.

Trong những đám cưới, quần áo và trang sức của người Dao Tuyển thật đẹp. Sắc chàm xanh thẫm đã nhuộm thắm trang phục của dân tộc Dao Tuyển, tuy không rực rỡ như trang phục Mông hay Dao Đỏ, nhưng nó lại duyên dáng và tôn lên cùng với sắc lấp lánh của vòng tay, vòng cổ, hoa tai bằng bạc. Các cô gái Dao Tuyển thường dùng nhiều trang sức bằng bạc để đến những hội vui mùa xuân. Khi những chú chim ríu rít gọi bầy làm tổ, cũng là lúc đón cô dâu mới về nhà. Cô dâu được trùm kín đầu bằng chiếc khăn màu đỏ, đi vào nhà làm lễ, rồi được thầy cúng và hai bên gia đình chúc mừng hạnh phúc. Theo quan niệm của cư dân nơi đây, khi cô gái về làm dâu, ngoài váy áo cô đã làm suốt một năm qua, cô còn có của hồi môn là những đồ trang sức bằng bạc do cha mẹ mình tặng. Khi về đến nhà chồng, thầy cúng sẽ cắt một sợi chỉ màu để trao cho cô dâu, chú rể với mong muốn cả hai sẽ cùng giữ gìn hạnh phúc gia đình. Cô dâu, chú rể sẽ được cha mẹ chồng trao đồ trang sức, lễ nghi này rất quan trọng vì nó thể hiện rằng: đồ trang sức bạc sẽ bảo vệ cho đôi vợ chồng mới khỏi điều dữ và vun đắp hạnh phúc lứa đôi. Trang sức của cô dâu Dao Tuyển gồm có vòng cổ dài được trang trí nhiều hoa văn từ những hình mẫu cổ xưa như: hình tròn và hoa lá, ngoài ra còn có vòng tay và hoa tai. Trên nền váy chàm xanh, khăn màu hồng đậm, trang sức bạc trắng tôn lên vẻ rạng rỡ, sáng ngời của cô gái Dao. Những đồ trang sức này sẽ được họ giữ lại như bảo vật của gia đình, dòng họ và sẽ trao lại cho con cháu sau này.

Nếu trang phục của người Dao Tuyển chủ yếu là sắc chàm, thì trang phục của người Dao Đỏ lại bừng lên rực rỡ sắc đỏ của hoa văn trên áo, mà màu đỏ ở đây gắn với truyền thuyết về con chim hạnh phúc của người Dao Đỏ. Cô dâu Dao Đỏ nổi bật bởi chiếc khăn đội đầu và lấp lánh trang sức bạc trên áo, trên cổ và tay, đó là vật không thể thiếu cho cô dâu khi về nhà chồng và mang biểu tượng của hạnh phúc vững bền.

Trang phục và đồ trang sức của cô dâu người Nùng Dín là một nét đặc sắc trong văn hoá chung của các dân tộc thiểu số Lào Cai. Sau khi cô dâu vái quỳ trước bàn thờ tổ tiên, mẹ chồng sẽ đeo tặng đồ trang sức cho cô như một sự đón nhận thành viên mới trong gia đình. Khi về nhà chồng, cô dâu sẽ được mẹ chồng cài thêm một chiếc trâm bạc lên đầu thành một đôi, điều này xuất phát từ truyền thuyết xa xưa của người Nùng Dín, đó là sự ghi dấu những tháng năm vất vả của các cô gái Nùng Dín thủa xa xưa. Chính bởi truyền thuyết lịch sử như vậy mà đồ trang sức trên trang phục dân tộc Nùng Dín có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của cư dân này không chỉ ở vẻ đẹp thẩm mỹ.

Truyền thống sử dụng đồ trang sức và coi nó là bảo vật trong cuộc đời mỗi người là tập quán tốt đẹp của dân tộc ta ở các vùng miền. Trang sức không chỉ làm đẹp cho hình thức con người mà còn là biểu tượng của tình yêu và sự nối kết giữa các thế hệ xuyên suốt thời gian qua các thời đại, nó sẽ được gìn giữ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trang sức các dân tộc Tây Bắc mãi mãi tôn vinh nét đẹp của con người vùng cao. Cùng bề dày văn hoá nó góp phần tô điểm cho vẻ đẹp chung của cả dân tộc.

PHẦN II. DI TÍCH VÀ DANH THẮNG

ĐIỂM NHẤN DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN 2010

Chương trình “Du lịch về cội nguồn 2010” sẽ được khai mạc vào tối 14 tháng Giêng năm Canh Dần tại Quảng trường khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường, TP Lào Cai hứa hẹn nhiều nét hấp dẫn khởi đầu của năm du lịch năm 2010.

TẠO DỰNG NHIỀU THƯƠNG HIỆU DU LỊCH

Với mục tiêu khai thác những tiềm năng thế mạnh về du lịch của vùng văn hóa Tây Bắc theo một hành trình xuyên suốt, những năm qua đã được tổ chức với nhiều hoạt động, sự kiện đa dạng, phong phú. Kết nối xây dựng được các tour, tuyến du lịch trên địa bàn như: “Cội nguồn đất Tổ”, “Thăm chiến khu xưa”, “Đất ngọc Lục Yên”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắc màu vùng cao”, … Thông qua các chương trình “về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” năm 2009 ở Phú Thọ; Lễ hội khám phá Thác Bà “nguồn sáng và những sắc màu văn hóa” ở Yên Bái. Đến hàng loạt những sự kiện tổ chức tổ chức tại tỉnh Lào Cai như: Lễ hội Đền Thượng, Tuần văn hóa lễ hội Sa Pa, Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà mở rộng; Tuần Văn hóa du lịch Bảo Yên, Chương trình du lịch khám phá Fanxipăng, Hội chợ Thương mại – du lịch Việt – Trung… đã tạo ra nhiều địa điểm sinh hoạt văn hóa vui chơi, giải trí lành mạnh, thu hút đông đảo du khách tới tham gia, hưởng thụ, tham quan và du lịch. Ngoài ra các địa phương còn tập trung tu bổ hệ thống di tích lịch sử, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở lưu trú, khách sạn, tăng cường các dịch vụ bổ trợ và phát triển các sản phẩm, hàng lưu niệm phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Các sự kiện văn hóa thể thao và du lịch trên đã thu hút hàng triệu lượt du khách, góp phần phục hồi, phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa cội nguồn dân tộc. Điều đáng ghi nhận hơn cả là qua việc tổ chức các lễ hội nhiều phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống từng bước được phục hồi, phát triển. Nhiều nơi đã hình thành và phát triển loại du lịch cộng đồng tại thôn bản, xây dựng các nhà nghỉ tại gia đình có tổ chức dịch vụ ăn uống, văn nghệ phục vụ khách du lịch, tiêu biểu như các mô hình du lịch cộng đồng, khám phá vẻ đẹp bản làng và nét văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc Lào Cai thời gian đây rất được các du khách nước ngoài ưa chuộng. Bởi vậy mà mỗi mô hình làng du lịch Bản Hồ, San Sả Hồ, Bản Khoang (Sa Pa), mỗi năm cũng đón hàng chục nghìn lượt du khách tham quan, nghỉ dưỡng.

NHỮNG ĐIỂM NHẤN DU LỊCH

Theo thông tin từ Ban tổ chức, Chương trình “Du lịch về cội nguồn 2010” sẽ được tổ chức cụ thể hơn, trong đó tập trung vào du lịch tâm linh, du lịch chợ quê, chợ vùng cao và du lịch ruộng bậc thang. Không chỉ là một sản phẩm du lịch thông thường, chương trình “Du lịch về cội nguồn 2010” hướng tới những nét đặc trưng mang đậm bản sắc của ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ. Trong vai trò là trưởng nhóm, Lào Cai đã có sự chuyển biến chu đáo, xứng đáng với tiềm năng của vùng văn hóa Tây Bắc, đồng thời là một trong 10 sự kiện lớn của các tỉnh Tây Bắc hướng về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Theo đó, các hoạt động văn hóa – du lịch chủ yếu tại Lào Cai năm 2010 bao gồm: lễ hội đền Thượng, Lễ hội trên mây Sa Pa, Hội đua ngựa truyền thống Bắc Hà, Giải leo núi chinh phục Fanxipăng lần thứ 3 và ngày hội văn hóa du lịch thành phố Lào Cai. Tại tỉnh Yên Bái có một số hoạt động chính gồm: Lễ hội đền Đông Cuông; lễ hội Đền Đại Cại – Lục Yên, Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập tỉnh Yên Bái và tuần văn hóa du lịch Mường Lò. Tỉnh Phú Thọ sẽ tổ chức chương trình “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam năm Canh Dần 2010”. Lễ khai mạc chương trình “Du lịch về cội nguồn 2010” của ba tỉnh tổ chức tại sân quảng trường khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường. Cùng với thời điểm đó cũng diễn ra nhiều sự kiện như: Lễ hội đền Thượng, Hội Báo xuân Canh Dần và nhiều hoạt động phụ trợ khác tại thành phố Lào Cai.

Một trong những điểm nhấn của “Du lịch về cội nguồn 2010” được xác định là giải leo núi chinh phục đỉnh Fanxipăng được tổ chức ở quy mô cấp quốc gia và là một chương trình du lịch quốc tế, với sự tham gia của 150-200 vận động viên trong đó có khoảng 50-100 vận động viên leo núi bán chuyên nghiệp là người nước ngoài. Việc leo núi cắm cờ “Thăng Long – Hà Nội 1000 năm tuổi” lên đỉnh Fanxipăng cũng chính là hoạt động nằm trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Trong vai trò là trưởng nhóm, Lào Cai tự tin bước vào một năm du lịch với đầy sôi động, tăng cường liên kết để góp phần thúc đẩy du lịch Lào Cai nói riêng, du lịch văn hóa vùng Tây Bắc nói chung tiếp tục phát triển.

Báo Lào Cai, số 1897+1898, 12/2/2010. Tr. 8

VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN

Vị trí: Vườn Quốc gia Hoàng Liên thuộc địa phận thị trấn Sa Pa, các xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, huyện Sa Pa; một phần huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai và hai xã Mường Khoa, Thân Thuộc, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đặc điểm: Đây là điểm du lịch sinh thái lý tưởng và phù hợp với nghiên cứu khoa học.

Từ thị trấn Sa Pa, du khách đi qua một đoạn dốc quanh co khoảng 20km, du khách sẽ đến với đèo Ô Quy Hồ – đèo Hoàng Liên, nơi đây thuộc địa phận Vườn Quốc gia. Tiếp tục men theo con đường mòn uốn lượn quanh triền núi ở độ cao trên 1.000m so với mặt nước biển, du khách sẽ bao quát hết được phong cảnh núi rừng nơi đây – một khu rừng với bạt ngàn cây xanh được phủ bởi những dải nắng vàng óng ánh đan xen vào nhau… thấp thoáng trong đó là từng vạt hoa đỗ quyên, hoa lan rừng, hoa mận… như đang cùng nhau khoe sắc; phía xa xa, những bản làng người dân tộc lấp ló qua từng làn sương mỏng…

Vườn Quốc gia Hoàng Liên chủ yếu là rừng nguyên sinh với một thảm thực vật rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi cao và một hệ động vật rừng phong phú, đa dạng.

Bên cạnh một hệ thực vật rừng phong phú, hệ động vật rừng cũng rất đa dạng với 66 loài thú, phổ biến là: vượn đen tuyền, hồng hoàng, cheo cheo, voọc bạc má…, trong đó có 16 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; 347 loài chim như đại bàng đốm to, trĩ mào đỏ, chim hét mỏ vàng…; 41 loài lưỡng cư và 61 loài bò sát, trong đó, có loài ếch gai rất hiếm ở Việt nam vừa mới được phát hiện.

http://www.vietnamtourism.com/

THUỐC TẮM – THẦN DƯỢC CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

Leo núi, băng rừng hái thuốc, bà Lý Mẩy Chạn, cùng nhiều người phụ nữ khác tại bản Tả Phìn – huyện Sa Pa (Lào Cai) đang bảo tồn và phát triển các bài thuốc tắm – vẫn được coi là “thần dược” của dân tộc Dao đỏ.

Bí quyết giữ nghề gia truyền

Bà Lý Mấy Chạn cho biết, trong ngôn ngữ người Dao đỏ, thuốc tắm có nghĩa là “Đia dảo xin”. Khác với một số vùng, đàn ông trực tiếp đi lấy và chế biến thì ở đồng bào Dao đỏ, phụ nữ là người đảm nhiệm công việc này. “Lý do đơn giản vì chúng tôi biết rõ về nơi có cây thuốc mọc, thời gian mọc, các kiêng kỵ cũng như công dụng của từng loại thảo dược”, bà Mẩy Chạn cho biết.

Đồng bào Dao đỏ quan niệm, khi đi lấy thuốc, nếu bước chân ra cửa gặp người con trai, rắn hoặc kiến bò qua đường là may mắn, khả năng chữa khỏi bệnh sẽ cao; khi đến nhờ thầy lấy thuốc mà ông thầy nằm trên gường thì khả năng khỏi bệnh sẽ hạn chế. Thời gian hái thuốc cũng rất quan trọng. Những ngày được người Dao đỏ cho là tốt là ngày mùng 8, 18, 28 của tháng 8 (tính theo âm lịch). Trong thời gian này, đi hái thuốc sẽ gặp được nhiều cây thuốc quý, tác dụng chữa bệnh của thuốc cũng sẽ công hiệu hơn.

Một yêu cầu không thể thiếu để có bài thuốc tốt nhất là sự kết hợp tính năng của các loại cây thuốc với nhau cũng như bảo quản và chế biến thuốc. Sau khi có đủ các vị, thuốc được cho vào nồi lớn có dung tích khoảng 40-50 lít nước, đun sôi trong khoảng 1 giờ. Sau khi nồi thuốc được nước (tùy theo kinh nghiệm của từng người), nước thuốc sẽ được múc hết ra một nồi khác để tiếp thêm nước vào nồi đun lần hai. Hai mẻ thuốc sẽ được hoà đều với nhau sau đó và có thể dùng để tắm. “Phải làm thành nhiều công đoạn như vậy là để đảm bảo các vị của thuốc sẽ được chiết ra hết dưới dạng nước và chúng được hoà trộn đều với nhau, từ đó công dụng chữa bệnh sẽ cao”, bà Chạn nói.

Món quà quý của khách du lịch

Đối với thuốc tắm chữa bệnh: Các loại bệnh như: hậu sản, đau tim, gan, đau nhức cơ, xương, khớp, cảm cúm, ngứa, táo bón, đinh nhọt v.v…có loại thuốc riêng, các loại thuốc này chỉ có số ít người biết cách chữa trị. Thống kê hiện nay tại xã Tả Phìn có khoảng 4 gia đình biết sử dụng thuốc để chữa bệnh, các xã khác hầu như không có. Để biết các ngón nghề trong việc tinh chế và sử dụng các bài thuốc vào việc chữa bệnh, người có nhu cầu đi học phải làm một số nghi lễ đối với thầy dạy.

Đối với thuốc tắm phục hồi và tăng cường sức khoẻ, người lao động nặng nhọc, mệt mỏi, mới ốm dậy sau khi tắm thấy cơ thể nhẹ nhõm, tinh thần sảng khoái, sức khoẻ được hồi phục, ăn nhiều, ngủ tốt. Tuỳ vào sức khoẻ từng người, thời gian tắm có thể từ 15 – 20 phút, người tắm có thể say thuốc, khi đó chỉ cần nghỉ ngơi một chút là hết và say thuốc được coi là hấp thụ thuốc tốt. Theo bà Lý Mẩy Chạn, thuốc tắm có tác dụng đặc biệt đối với phụ nữ sau khi sinh, nhờ thế người phụ nữ dân tộc Dao có thể cõng con lên nương ngay sau khi sinh vài ngày phần lớn là nhờ công dụng của thứ thần dược này.

Nhiều du khách sau những hành trình dài đi bộ, leo núi, hay những chuyến nghỉ tại nhà người dân sau khi được tắm thuốc, đều cảm nhận thấy dường như cơ thể vừa được hấp thụ một loại thần dược, sức khỏe hồi phục nhanh chóng, tinh thần sảng khoái. Nhiều du khách không chỉ tắm mà còn mua về dùng và làm quà.

(Theo Báo Đất Việt)

XÃ NA HỐI (BẮC HÀ): TƯNG BỪNG LỄ HỘI XUỐNG ĐỒNG ĐẦU

Đã thành thông lệ mỗi dịp đầu xuân mới, vào ngày 15 tháng giêng đồng bào dân tộc Tày, xã Na Hối (Bắc Hà) lại tưng bừng tổ chức lễ hội xuống đồng. Đây là lễ hội truyền thống đã và đang được cấp uỷ, chính quyền địa phương gìn giữ và phát huy.

Lễ hội gồm 2 phần; Phần lễ và phần hội. Phần lễ tương đối đơn giản, giữa bãi rộng nhân dân dựng một cây nêu bằng hương to có gắn một vòng tròn dán giấy đỏ( biểu tượng của mặt trời). Dưới chân cây nêu là mâm lễ của làng và của đại diện của 15 thôn bản trên địa bàn xã dâng lên các vị thần linh, báo cáo thành quả sau một năm lao động sản xuất. Đồng thời, cảm ơn thần nông đã phù hộ, mời thần về dự hội với dân làng và cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt bội thu. Ngay sau phần lễ là phần hội. Phần hội được bắt đầu bằng các điệu múa và các tiết mục văn nghệ dân gian đặc sắc của nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã như: múa quạt, múa khăn, múa gậy, hát đối, hát giao duyên. Cùng các trò chơi truyền thống như kéo co, đẩy gậy…..

Với những hoạt động phong phú, hấp dẫn, lòng mến khách của đồng bào các dân Tày cùng với những nét đẹp trong lễ hội xuống đồng xã Na Hối đã góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trên quê hương vùng cao Bắc Hà, góp phần thu hút khách du lịch tới địa phương.

Nói đến hoa hồng là chúng ta thường nghĩ ngay đến đất nước Bulgari xa xôi ở trời Âu – nơi được mệnh danh là xứ xở của hoa hồng – loài hoa mang thông điệp tình yêu hay một nơi rất gần với chúng ta hơn, đó là Đà Lạt (Lâm Đồng) – nơi được mệnh danh là thành phố của ngàn hoa, thành phố của sương mù… Tuy nhiên, thiên nhiên, tạo hóa luôn ưu đãi đất nước chúng ta, trong một thung lũng quanh năm bốn mùa bồng bềnh mây trắng, người ta lại gây dựng được cả một vườn hồng Pháp đủ loại với màu sắc sặc sỡ, đã làm siêu lòng bao lượt du khách tham quan. Với diện tích trên 20ha, Vườn hồng Sa Pa hay Khu du lịch sinh thái công nghệ cao Việt Mỹ – Sa Pa nằm trọn trong thung lũng được bao bởi hai dãy núi Hàm Rồng và Hoàng Liên Sơn. Từ trên cao nhìn xuống, Vườn hồng Sa Pa giống như một bức tranh đẹp với nhiều nét chấm phá sinh động và phong phú. Pha lẫn trong sự đa dạng về màu sắc của vườn hoa là những màu sắc, hình khối nổi bật cả về phong cách thiết kế lẫn sự sáng tạo. Giữa bạt ngàn hoa thắm, người ta còn sắp đặt được rất nhiều khu, tạo nên sự mới mẻ và hấp dẫn cho du khách: Khu nhà sàn được thiết kế hoàn toàn bằng gỗ pơmu với lối kiến trúc nhà sàn của đồng bào dân tộc vùng cao Lào Cai, đan xen vào đó là những nét kiến trúc theo phong cách Châu Âu hiện đại. Tất cả các nhà sàn đều có mặt hướng về phía thung lũng Lao Chải – nơi có những thửa ruộng bậc thang trông tựa như những cung đường xếp chồng lên nhau cao mãi cao mãi…, giúp du khách có dịp nghỉ ngơi và ngắm nhìn phong cảnh núi rừng trùng, điệp một màu xanh mướt; khu giải trí, nghỉ dưỡng độc đáo, mang đậm hương vị Sa Pa như: Dịch vụ tắm lá thuốc của người Dao Đỏ ở Sa Pa; biểu diễn văn hóa, văn nghệ của đồng bào Tày, Dao, H’ Mông, Xa Phó – giúp du khách có dịp vừa được nghỉ ngơi, giải trí và thư giãn vừa được biết thêm về phương pháp trị liệu theo Đông Y; khu nhà hàng, quán bar…, giúp du khách có dịp thưởng thức những món đặc sản của vùng cao: Lợn cắp nách, cá suối, thịt hun khói với ớt khô , rượu táo mèo Sa Pa…

Đến Vườn hồng Sa Pa, du khách không những được tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ của một vùng quê quanh năm mây mù bao phủ mà du khách còn có dịp được tham quan, ngắm nhìn cảnh đẹp nơi đây như: tham quan Vườn Quốc gia Hoàng Liên, khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, khu du lịch Thác Bạc – Cầu Mây, tham gia các tour dã ngoại leo núi Phan Si Păng, các tour khám phá bản làng dân tộc…

http://www.vietnamtourism.com/

THÀNH CỔ TRUNG ĐÔ

http://www.vietnamtourism.com/

THÀNH CỔ NGHỊ LANG

Hiện nay thành còn nhiều dấu tích. Phía đông là sông Chảy – một chiến hào tự nhiên nước chảy xiết cuồn cuộn, từ ngòi Lự đến ngòi Ràng là những đoạn luỹ cổ, tre ken dày và bên kia sông Chảy là bãi soi Bầu (từ cổ nghĩa là bề trên, chỉ anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật ). Tương truyền đó là bến thuyền, là căn cú quân sự của các chúa Bầu, ở đó có đồi khao quân. Phía bắc thành một bên dựa vào núi cao hiểm trở, chân núi là ngòi Ràng – một con suối rộng từ 6 – 8m làm chiến hào chở che. Ngang bờ chiến hào, các chúa Bầu còn cho trồng luỹ tre theo hình tam giác ken chặt bờ thành. Phía nam và tây thành đều dựa vào các dẫy núi cao. Trong thành có lầu chỉ huy, có xưởng rèn vũ khí, sản xuất gạch ngói, có trại lính và hệ thống chợ búa trường học.

Phía tây bắc thành có hệ thống hồ sen du ngoạn của chúa Bầu với phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” khá đẹp. Cạnh hồ là quần thể các lò gốm, lò gạch cổ. Suốt trên vạt đồi rộng hàng ngàn m² còn ngổn ngang các hiện vật gốm cổ, nhiều nhất là ngói cổ thời Lê Trung Hưng. Ở hàng Căm Véo – một điểm chốt tiền tiêu phía tây thành tìm thấy một khẩu súng lệnh bằng đồng dài 40cm , đường kính dài 12cm, trên thân khẩu súng còn khắc hai hàng chữ “Nghị Lang thủ ngự”. Đây là khẩu súng lệnh mang số hiệu 29 của vị thủ lĩnh đơn vị bảo vệ thành Nghị Lang.

Theo http://www.vietnamtourism.com/

THẮNG CẢNH HANG TIÊN

Vị trí: Hang Tiên thuộc xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Ðặc điểm: Thắng cảnh Hang Tiên là một Hạ Long thu nhỏ và gắn liền với sự tích về miếu thờ Ba Cô xã Bảo Nhai.

Ngược dòng sông Chảy khoảng 6km, từ trung tâm xã Bảo Nhai (huyện Bắc Hà) thuyền sẽ đưa bạn qua thành cổ Trung Đô với nhiều huyền thoại. Dòng sông Chảy đến đây thắt lại tạo thành dòng sâu, hiền hoà, len lỏi giữa hai bờ vách thành dựng đứng. Hai bên là cánh rừng nguyên sinh, phủ lên cảnh quan một miền khí hậu trong lành mát mẻ.

Những dòng suối nhỏ từ trên cao đổ xuống như dải lụa, mờ ảo, lất phất như mưa bay. Dòng nước như người thợ điêu khắc lành nghề đục vào vách đá tạo nên những đài sen nổi, những nhũ đá muôn hình vạn dạng. Kia là chú voi đang cúi đầu uống nước, đây là con đại bàng cất cánh bay lên… và hội tụ lại thành bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây chính là suối Tiên.

Qua suối Tiên 200m là gặp hang lớn có sức chứa cả trăm người, cảm giác như một mê cung kỳ vĩ do thiên nhiên ban tặng, đã xếp thành tầng, thành lớp, tạo những rào luỹ tự nhiên. Ngược lên khoảng 500m là dòng nước nhỏ tí tách tạo thành nhũ đá như những tháp cổ to nhỏ với ánh sáng hiếm hoi hắt vào lấp lánh như ánh lân tinh. Nhiều khi phải đeo mình vào bờ đá, bám vào các rễ cây mới tới đường lên trời, du khách thấy mình thực sự được trải qua cuộc thăm viếng động Tiên.

Sau thời gian du ngoạn, ta được tắm mình trong ánh nắng nơi đảo hoa, một hòn đảo nhỏ đầy hoa thơm cỏ lạ, sóng nước vỗ về dập dình bên bờ đá. Hang Tiên gắn liền với huyền thoại ba nàng tiên; truyền khẩu rằng, xưa kia có ba nàng tiên được vua cha cho đi thăm thú cõi trần gian, thấy nơi đây sơn thuỷ hữu tình, các nàng không muốn trở về. Đã hết hạn, không thấy con về, Ngọc Hoàng nổi giận sai Thiên Lôi xuống trị tội. Ba nàng chốn trong hang cao hơn mặt nước khoảng 200m ngự trên vách thành. Do không chấp hành chiếu chỉ, Thiên Lôi nổi giận giẫm sạt một góc núi nơi ba nàng tiên trú ngụ. Biết không thoát khỏi trừng phạt, ba nàng đã gieo mình tự vẫn. Xác ngược dòng nước trôi xuống hạ lưu nơi trung tâm xã Bảo Nhai hiện nay, được dân làng vớt lên làm miếu thờ mang tên miếu Ba Cô, tục truyền rất thiêng. Nhiều du khách viếng thăm, vãn cảnh tắm suối Tiên đắm mình trong ánh ban mai bên đảo hoa và đều cầu mong các nàng ban phúc cho sắc đẹp, sức dai và phú quý.

http://www.vietnamtourism.com

THÁC TÌNH YÊU

Vị trí: Thác Tình yêu thuộc địa phận xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách thị trấn Sa Pa khoảng 4km theo hướng tây nam.

Đặc điểm: Đây là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng lý tưởng và đến đây, du khách sẽ có dịp tìm hiểu về huyền thoại một câu chuyện tình đầy lãng mạn.

Đường dẫn du khách đến thác Tình yêu là một con đường đất đỏ chạy qua khu rừng trúc xanh mướt, bạt ngàn mà thấp thoáng đâu đó, ánh lên vẻ đẹp dịu dàng của loài hoa đỗ quyên với những gam màu đỏ, trắng, vàng khá tươi tắn; hòa trong cảnh đẹp nơi đây, du khách sẽ thấy thoảng thoảng bên tai mình âm thanh xào xạc của cây rừng đang đu đưa trong gió… Khi đã đi hết đoạn đường này, du khách sẽ gặp một dòng suối, tiếp tục men theo dòng suối là du khách sẽ tới thác Tình yêu.

Trong không gian bao la và cảnh đẹp nơi đây, thác Tình yêu thực sự là điểm du lịch tuyệt vời của du khách. Đến với thác Tình yêu, là du khách tìm về cội nguồn của một câu chuyện tình đầy lãng mạn.

http://www.vietnamtourism.com

Từ thành phố Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D về phía đông bắc khoảng 20km, du khách sẽ tới xã Bản Lầu.

Nhìn từ xa, các thôn, bản ở xã Bản Lầu thấp thoáng xen lẫn trong màu xanh bạt ngàn của những đồi dứa và những nương chuối… Nơi đây không chỉ là một vùng quê trù phú mà còn có những thắng cảnh tươi đẹp, trong đó có thác Na Pao.

Theo tiếng Nùng, thác Na Pao nghĩa là thác dài. Thác được hình thành bởi một dòng suối bắt nguồn từ trên núi rồi chảy trên nền địa hình gập ghềnh, khúc khuỷu; khi dòng nước chảy đến địa phận xã Bản Lầu, nó gặp một mạch nước ngầm từ dưới lòng núi Suối Thầu (thuộc xã Bản Sen) phun lên, đã tạo thành những dòng nước có tốc độ chảy khá mạnh, tại vị trí này, người ta gọi là thác Na Pao.

Thác Na Pao có bề rộng mặt nước khoảng 20m. Nhìn từ xa, thác Na Pao giống như những dải lụa trắng vừa nhấp nhô uốn lượn theo triền đá; vừa mỏng manh, dịu dàng đến lạ kỳ. Riêng phiến đá to nhất có chu vi bằng khoảng hàng chục người ôm, mạch nước ngầm từ trong lòng núi Suối Thầu đã phun ra ở phía trên đỉnh phiến đá, tạo hình giống như một búi lụa trắng với những dài lụa dày, mỏng khác nhau phủ khắp bề mặt phiến đá.

Đến với thác Na Pao, là du khách đến với một bầu không khí trong lành, mát mẻ với nhiệt độ trung bình mùa hè khoảng từ 20 – 25ºC, mùa đông khoảng từ 13 – 15ºC và một hệ thực vật rừng phong phú, đa dạng. Nơi đây còn cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp của bà con người dân tộc Nùng, Giáy, Mông. Hy vọng trong tương lai gần, thác Na Pao sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái lý tưởng của du khách mỗi khi đến Mường Khương.

http://www.vietnamtourism.com

LÀO CAI: TẠO MÔI TRƯỜNG HẤP DẪN THU HÚT KHÁCH

Phát triển ngành “công nghiệp không khói” là một mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Trong những năm qua, Lào Cai đẩy mạnh quảng bá tiềm năng du lịch trên toàn quốc và thế giới.

Với tiềm năng, thế mạnh về du lịch, Lào Cai ngày càng thu hút du khách trong nước và quốc tế. Trong khi nhiều cửa khẩu khác có xu hướng giảm lượng khách Trung Quốc đến, thì cửa khẩu Lào Cai – Hà Khẩu duy trì hoạt động đón khách Trung Quốc khá tốt. Cùng với đó, du khách chọn các điểm đến: SaPa, Bắc Hà, thành phố Lào Cai đã tạo cho thị trường du lịch của tỉnh ngày thêm sôi động. Con số khá ấn tượng: gần 671 nghìn lượt khách du lịch đến với Lào Cai từ đầu năm đến nay (tăng 27% so với cùng kỳ) đã góp phần đáng kể cho nguồn thu ngân sách của tỉnh. Tổng doanh thu du lịch 10 tháng năm 2009 ước đạt 433 tỷ đồng, bằng98% kế hoạch năm.

Ông Nguyễn Đình Dũng, Phó Giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch Lào Cai cho biết: Bằng các biện pháp đồng bộ đã tạo “cú hích” để thu hút khách du lịch đến với Lào Cai. Tỉnh không chỉ đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng thiết yếu để khai thác tiềm năng du lịch, mà còn đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch. Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo cho thị trường du lịch Lào Cai hấp dẫn.

Một thành công của du lịch Lào Cai là đã ký kết, hợp tác với vùng Aquitaine về hình thành Nhà Du lịch, từ đó Trung tâm Thông tin Du lịch tỉnh Lào Cai được thành lập năm 2007. Đây là mô hình điểm trong cả nước để nhiều địa phương đến nghiên cứu học tập. Việc hình thành Trung tâm Thông tin Du lịch Lào Cai và kiện toàn hệ thống các nhà du lịch đã phát huy hiệu quả. 3 năm qua, toàn tỉnh đã thu hút được 7 dự án đầu tư vào du lịch với tổng số vốn gần 29 triệu USD (từ nguồn vốn FDI) và 1 dự án du lịch sinh thái (từ nguồn vốn AFD viện trợ không hoàn lại 1.790.000 Euro); phê duyệt cho 12 doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn trên 300 tỷ đồng.

Ngoài ra, Trung tâm Thông tin Du lịch Lào Cai cũng duy trì hợp tác đặt phòng cho khách du lịch và thực hiện các hoạt động quảng bá du lịch Lào Cai trực tuyến qua mạng.

Bằng các biện pháp tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến đầu tư du lịch đồng bộ, Lào Cai ngày càng tạo môi trường du lịch hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước.

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 230. – Ngày 21/11. – Tr. 3

TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT VÙNG ĐỂ THÚC ĐẤY DU LỊCH

PHÚ THỌ – YÊN BÁI – LÀO CAI PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BÊN VỮNG

TS Vũ Thế Bình

Liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh, các vùng miền trong nước là một xu hướng mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Năm 2004, 3 tinh Phú Thọ – Yên Bái – Lào Cai đã đi đầu trong việc ký cam kết hợp tác liên kết phát triển du lịch theo xu hướng này thông qua việc triển khai thực hiện Chương trình du lịch về cội nguồn. Kể từ khi 3 tỉnh liên kết triển khai Chương trình du lịch về cội nguồn năm 2005, hoạt động du lịch ở cả ba địa phương đã có những khởi sắc đáng kể. Lượng khách đến 3 tỉnh đã tăng trưởng nhanh, góp phần tăng nguồn đóng góp vào GDP của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương. ba tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai có vị trí hết sức quan trọng ở vùng núi phía Bắc. Đây là cửa ngõ phía Tây Bắc nước ta, là nơi đón những luồng khách từ của khẩu Lào Cai về Hà Nội và ngược lại. Để thu hút nhiều hơn khách du lịch, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế du lịch tại địa phương, lãnh đạo ba tỉnh đã phối hợp khá tốt trong việc chỉ đạo triển khai chương trình du lịch về cội nguồn và thu được kết quả nhất định trong nững năm qua…

Phú Thọ là nơi có nhiều tiềm năng và điều kiện phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa lịch sử mà tâm điểm là Khu di tích lịch sử Đền Hùng. Với việc kéo dài mùa lễ hội, Khu di tích lịch sử Đền Hùng đang trở thành một trong những điểm du lịch thu hút nhiều khách du lịch nội địa nhất và cũng đã bắt đầu có khách quốc tế. Các làng cổ vùng ven Đền Hùng cũng là những địa danh hấp dẫn để có thể phát triển các sản phẩm du lịch nhờ các lế hội văn hóa dân gian đặc sắc và lối sống của người dân địa phương. Vườn quốc gia Đền Hùng cũng là những điểm du lịch hấp dẫn nhờ phong cảnh thiên nhiên và hệ thống động thực vật phong phú. Bên cạnh đó, Phú Thọ cũng là nới có nhiều tiềm năng để hình thành các sản phẩm du lịch thiên nhiên và du lịch sinh thái mặc dù hiện tại còn rất hoang sơ như khu vực đầm Ao Châu, Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Yên Bái có rất nhiều tiềm năng du lịch thiên nhiên và du lịch văn hóa. Tuyến quốc lộ 32 chạy qua hầu hết địa phận tỉnh Yên Bái là tuyến quốc lộ có cảnh quan rất đẹp, đi qua một số bản dân tộc đặc sắc và di tích quốc gia. Khu vực ruộng bậc thang Mù Căng Chải mới được công nhân là di tích quốc gia có ảnh quan rất đẹp, rất hấp dẫn du khách nước ngoài. Phong cảnh ruộng bậc thang tại xã La Pán Tẩn, xã Chế Cu Nha, xã Zế Xu Phình khá đẹp cộng với hình ảnh nhà sàn của đồng bào dân tộc đã tạo nên một bản sắc riêng cho khu vực này. Đặc biệt cung đường từ Tú Lệ đến Mù Căng Chải rất đẹp. Tuyến du lịch từ Nghĩa Lộ tới Trạm Tấu thực sự hấp dẫn, mọtt bên là núi một bên là dòng suối uốn lượn cùng với những cảnh ruộng bặc thang rất đẹp, thích hợp cho việc tổ chức các tour du lịch sinh thái, mạo hiểm, đi bộ trekking, xe đạp, ô tô. Tại Nghĩa Lộ, bản dân tộc Thái vẫn còn lưu giữ được những nét truyền thống văn hóa rất xa xưa của người Thái. Bên cạnh đó, vùng chè cổ thụ suối Giàng đã nổi tiếng có thể tạo thành một điểm du lịch văn hóa và sinh thái. Hồ Thắc Bà với diện tích 23.000ha là hồ lớn nhất Việt nam. Mặt nước rộng mênh mông cùng với hàng ngàn hòn đảo trên hồ và những bản làng dân tộc ven hồ vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét văn hóa truyền thống đặc sắc đã tạo nển phong cảnh hấp dẫn, thích hợp cho việc tổ chức các toru du lịch sinh thái và khám phá văn hóa dân tộc. Với tiềm năng du lịch của Yên Bái, đặc biệt là khu vực Mù Căng Chải và Trạm Tấu, có thể phát triển được nhiều sản phẩm du lịch mới, đa dạng, độc đáo và hấp dẫn khách du lịch trong thời gian tới.

Lào Cai là địa phương có nhiều tiềm năng du lịch và phát triển nhất về du lịch thời gian qua so với 2 địa phương còn còn lại. Sa Pa là trọng điểm số một của Lào Cai về thu hút khách nhờ sức hấp dẫn về văn hóa dân tộc, khí hậu và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp của vùng này của vùng này. Sa Pa có thể nói là trung tâm du lịch của vùng Tây Bắc của vùng Tây Bắc, thu hút nhiều khách trong và ngoài nước. hai bên tuyến đường từ Sa Pa đến Tả Van có khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Đây có thẻ nói là khu vực hấp dẫn nhất của Sa Pa và cũng là điểm kéo dài thời gian lưư trú của du khácha đến với địa phương này. Tuyến đường từ Bình Lư đi sa Pa có cảnh quan thiên nhiên rất đẹp và hùng vĩ, đặc biệt là khu vực núi Fanxipăng rất thích hợp cho việc tổ chức các tour du lịch bằng môtô, xe đạp, đi bộ, leo núi,… Ngoài khu vực Mường Khương, Bắc Hà đều là những địa danh có cảnh quan đẹp và chợ văn hóa vùng cao đầy hấp dẫn đang ngày càng thu hút khách. Một trong những chưong trình hấp dẫn ở tuyến này là đoạn đi bè trên sông Chảy từ Cốc Ly về Bảo Nhai, khung cảnh thiên nhiên hai bên bờ sông khiến du khách rất hứng thú. Nếu như không có việc xấy dựng công trình thủy điện Cốc Ly thì tuyến du lịch này sẽ là một trong những tuyến du lịch đẹp nhất vùng Tây Bắc. Bắc Hà có thể là một điểm thăm quan kết hợp trong chương trình du lịch Sa Pa. Bắc Hà hấp dẫn bởi nét văn hóa “chợ dân tộc”… Cung đường nối huyện Bắc Hà (Lào Cai) với huyện Xín Mần (Hà Giang) nếu sớm được đầu tư nâng cấp sẽ tạo điều kiện hình thành tour du lịch liên vùng Tây – Đông Bắc đầy hấp dẫn…

Nguồn: Văn hóa Thể thao du lịch Phú Thọ. – Số 2. – 2008. – Tr. 54

TẢ VAN GIÁY – MỘT ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA BẢN LÀNG

Theo quốc lộ 4D đi về hướng Đông Nam, cách thị trấn Sa Pa khoảng 8 km là đến làng Tả Van Giáy. Làng sống tập trung dưới chân núi trên diện tích khá bằng phẳng rộng khoảng 9.466 ha, gồm 110 hộ dân với 550 nhân khẩu. Tả Van Giáy là theo cách gọi ngày nay, còn dân địa phương ở Lào Cai và dân tộc Giáy ở Lai Châu cũng chỉ quen gọi ” Mướng Và”, tên gọi này bị gọi chệch từ “Mướng Vá” theo âm của tiếng Tày. Nghĩa của “Mướng Vá” theo tiếng Tày là “Sải tay”. Tương truyền làng này ngày xưa là làng người Tày cho nên mới có tên gọi như vậy. Là tương truyền song thực tế cũng có ba dấu tích để có thể khẳng định người Tày đã từng sinh sống ở đây. Dấu tích thứ nhất, tên gọi của làng từ xa xưa; dấu tích thứ hai, thần mà làng đang thờ là người Tày với họ là “Mào”, họ này chỉ thấy có ở người Tày và người Thái; dấu tích thứ 3, khi cúng thần làng thầy cúng mặc áo dài như người đàn ông Thái, Tày vẫn mặc trong lễ tết, khi khấn cũng là dùng tiếng Tày khấn; bốn là, hiện nay ở đền Trung đô (Bắc Hà) có gia phả lấy từ Mướng Và sang thờ; dấu tích thứ năm: Trung tâm của làng có một mỏm đồi được dân làng gọi tên “Pỏm mò dà táy” nghĩa là đồi mộ bà Tày.

Làng dựa lưng vào núi, trước mặt là con suối Mường Hoa. Thế của làng Giáy Mướng Và dựa lưng vào hướng Tây nhìn sang hướng Đông, song các nhà lại quay mặt về hướng Đông Bắc, bởi hướng chính Đông vừa là núi đá cao sừng sững vừa là phương dần, còn hướng Nam có dòng suối cháy xuôi. Theo quan niện về phong thủy của người Giáy, hướng nhà về núi đá và xuôi theo dòng nước là không tốt…

Về phong tục tập quán; tín ngưỡng – tôn giáo – lễ họi của dân tộc Giáy còn giữ được khá nguyên vẹn. Mùa cưới của người Giáy là tháng mười âm lịch của năm trước đến tháng hai âm lịch của năm sau (từ tháng 3 – 7 không bao giờ được tổ chức đám cưới, tháng 8, 9 có thể cưới được), với nhiều bước cầu kỳ: Đầu tiên là xem mặt, xem nhà – bước này diễn ra trong trường hợp hai nhà ở xa nhau, đôi trai gái chưa quen biết nhau mà do cha mẹ sắp đặt. Tiếp theo là Thả mai mối – đây là việc làm của nhà trai. Cha mẹ người con trai có thể hỏi con trai mình về người con gái. Nếu người con trai trả lời: tùy bố mẹ, là chàng trai đã ưng sau lần gặp gỡ nàng. Mai mối lại “mặc cả” nếu được nhà gái và người con gái ưng thuận, ông bà mai mối của nhà trai tiếp tục đi lại với nhiệm vụ làm liên lạc giữa nhà trai và nhà gái trong cuộc ” mặc cả” và thống n hất ngày “đoạn lời” (tức sau ngày thống nhất giữa nhà gái và nhà trai về tiền của, rượu thịt, quần áo…thì sau có lễ “đoạn lời – cắt lời”). Tiếp đến giai đoạn Thách cưới, chủ yếu: thách rượu thịt để mời khách trong ngày cưới, thách làm vốn cho người con gái. Lễ “đoạn lời” được tổ chức ăn ở cả hai bên. Nhà gái có khi thách, có khi không tùy nhà trai đưa đến. Thường là nhà gái thách để nhà trai dễ định liệu, lúc này đôi trai gái được công nhận là con của hai gia đình, coi như đã thành vợ chồng, người con trai, người con gái không được đi với “người khác”. Sau ba năm tính từ lễ này nếu nhà trai không đón được dâu thì hai bên tự do đi với người khác, nếu chưa đủ ba năm mà “phá rào” thì sẽ bị phạt.

Người Giáy quan niệm vạn vật linh hồn, có kiếp luân hồi, do đó con người là do trời thả xuống, khi chết phải trở về trời. Khi trong nhà có người chết con cháu tiến hành rửa thi thể bằng lá bưởi, lá chanh cùng với chậu nước ấm và vải bong mới, rồi thay quần áo mới cho người quá cố. Sau khi mặc quần áo người nhà đem thi hài đến nằm ở gian giữa nhà, đầu quay về phía bàn thờ, chân hướng ra cửa chính. Trên thi hài phủ lớp vải trắng, mặt phủ giấy vàng, miệng ngậm đá (lấy từ đá mài dao) và những miếng bạc cắt ra từ đồng bạc trắng. Có bao nhiêu con đẻ, cháu nội thì ngậm bấy nhiêu viên đá, miếng bạc với ý nghĩa là để khỏi mở miệng khi gặp con cháu, hồn ma người quá cố hỏi ai thì người đó sẽ bị ốm đau. Chỗ đặt người chết nằm có màn che, hai đầu có lọ để thắp hương, riêng phía đầu có bát cơm đầy phủ giấy bản, cắm đũa và một con gà con đã nướng chín. Cùng lúc đó lấy nón hoặc các vật khác che tất cả các bát hương trên bàn thờ. Thời gian chờ khâm liệm để đưa người chết vào quan tài tùy thuộc vào sự chuẩn bị của gia đình và việc chọn giờ tốt của thầy mo. Khi đã đưa thi hài ra nằm ở giữa nhà các con cháu mặc áo trái, đi chân đất, để đầu trần và phải ăn chay, nằm đất ngồi xổm đến khi đưa người quá cố đi chôn. Nơi chôn thường là trên đồi, cũng có thể là ruộng. Mời thầy mo xem hướng mộ trước ngày chôn. Mộ phải hướng về nơi có đồi, đằng sau có núi vì đồi là bàn ăn còn núi là chỗ dựa. Sau khi chôn được 2 ngày con cháu quay lại đắp mộ để ngày thứ 3 cúng ba ngày. Đặc biệt trong tang ma của người Giáy có Mo lễ tang gồm có 80 bài của 13 tiết mo, nội dung chủ yếu: Thứ nhất, nói về sự ra đời của con cháu; sự ốm đau sống chết, những việc của con cháu làm thể hiện sự hiếu thảo để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng nuôi. Hai là, dẫn tiễn linh hồn về với tổ tiên, giao cho tiên phật. Tất cả nội dung đó mang tính nhân văn, răn dạy con người, là một hình thức nhắc lại, giáo dục con cháu về đạo làm người…

Khi người phụ nữ mang thai đến tháng thứ tám, thứ chín thì gia đình nhà chồng lo cho lễ gọi hồn ” Ráy văn tắm” bởi họ quan niệm, người phụ nữ chửa như đang sa xuống ao đầm, đang cố vẫy vùng để thoát chìm nên làm lễ gọi hồn của người mẹ – đưa hồn người mẹ ra khỏi ao đầm đó. Thứ nữa là người chửa luôn lo lắng cho sức khỏe, sinh nở… dẫn đến hồn bay phách lạc, phải gọi hồn về. Sau khi sinh phải kiêng cữ cẩn thận, nhất là việc ăn uống. Sau một tháng mới được ra khỏi nhà và làm việc nhẹ trong nhà. Khi đứa con mới đẻ, bố mẹ không được tự đặt tên con mà là ông bà nội hoặc ông bà ngoại, nếu không còn ông bà nội, ngoại thì bố mẹ được đặt tên con. Lễ đặt tên cho trẻ quy mô rộng hẹp, to hay nhỏ phụ thuộc vào kinh tế của gia chủ nhưng không thể thiếu được thủ tục đưa cháu ra trình tổ tiên xin một người cao tuổi trong họ hàng hoặc người có phẩm chất đặt tên cho cháu (như ông bà nội ngoại).

Trong tôn giáo – tín ngưỡng của người Giáy quan trọng nhất là thờ cúng tổ tiên và cúng thần. Thờ cúng tổ tiên là thờ các dòng họ Vàng, Lù, Lò, Lý… mà không phải thờ người cụ thể. Quan niệm rằng: Cây phải có tổ, con người phải có cha mẹ, dòng họ quê hương, trong ba yếu tố đó dòng họ là yếu tố hàng đầu, bởi vậy nhà người Giáy không thể thiếu được bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ linh thiêng, là tổ tiên, nguồn gốc của dòng họ và được đặt gian giữa nhà. Người Giáy thờ thiên thần chứ không thờ không thờ nhân thần trong đó có hai loại thần là ” Thú tỷ” – thổ địa, “Srú pướng” và “Đong xía” – Thần rừng. Vào ngày mồng 6/ 6, dân bản để bát hương ở gốc cây to hoặc một hòn đá to nào đó gần làng (chủ yếu là cây to). Nơi đặt bát hương không được chặt phá cây hay khai phá làm ruộng nương hoặc bất kỳ việc gì khác, tuyệt đối không được làm những điều ô uế nơi thờ thần, nên gọi là Rừng cấm ” Đong cấm” hay Thần rừng ” Đong Xía”.

Văn nghệ dân gian ở làng Tả Van Giáy rất phong phú và đa dạng gồm truyện cổ tích như: “E Chá, E Péng” hay “Pítchai phủ sỹ” là truyện người Giáy yêu thích nhất; Câu đố và tục ngữ có nhiều bài như về đó vui, đố cây cỏ, vật dụng trong gia đình, các hiện tượng thiên nhiên… hay những câu tục ngữ để răn dạy con trẻ, đối đáp trao đổi những việc hệ trọng và cũng là tiêu chí ứng xử trong xã hội… Đồ sộ nhất là Dân ca gồm trên 10 bài dân ca đám cưới, trên 300 bài hát giao duyên và 15 trong tiệc rượu…

Nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của người Giáy là nghề dệt vải và nghề đan lát. Nghề dệt vải hiện nay đã bị mai một, các gia đình hầu như không còn khung dệt hoặc tháo dỡ cất đi. Có hai loại khung dệt, một to, một nhỏ. Loại khung to còn ở gia đình ông Phan Văn Díu, Lục Văn Phủ; khung nhỏ ở gia đình ông Sầu Văn Mùi, Vàng Văn Máo, Nông Văn Sèn. Nghề đan lát trong làng hiện nay chỉ có hai người biết đan: Sần văn Hợi và Phan Văn Sẩu. Chủ yếu là cung cấp vật dụng gia đình, nếu bán thường là thồ đan với giá 100.000 – 150.000đ/cái.

Trong làng còn có một ngôi nhà cổ như: Nhà ông Hoàng Din, Lồ A Mục… cổ nhất là của ông Lồ A Mục, gần 60 tuổi, cách trụ sở làm việc của xã Tả Van gần 1km về phía Tây Nam, được xây dựng năm 1934 (72 năm), nhà gỗ nền đất (hiện trong nhà vẫn để nền đất nhưng ngoài hiên và sân phơi lát xi măng). Nhà có các cột kê trên đá tảng với 5 hàng chân và một hàng chân nữa ở phía sau bàn thờ (sau bức vách chứa bàn thờ, phải đi cửa ngoài). Nhà ba gian, gian giữa lùi ra sau so với hai bên 1,5m,cửa chính ở gian này. Nhà hai mái, lợp gỗ Pơmu (từ năm 1997 thay bằng prôximăng), bên phải là bếp, bên trái làm them một chái rộng 30m2, có một gian giữa ra phía sau nhà. Chuồng gà ở bên phải, cáhc bếp 4m. Tường nhà được thưng bằng ván gỗ pơmu, xung quanh nhà rào tre đan. Trước nhà là sân phơi quần áo (trước phơi bằng sào nứa, nay là giây thép). Chái nhà vẫn theo kiến trúc xưa. Bếp thấp hơn nhà còn giữ được nét cổ là mái lợp từ gỗ Pơmu, vách đằng sau nhà đan bằng Vầu (còn lại thưng bằng gỗ). Chái bếp ở bên phải là nơi rửa rau, vo gạo, giặt giũ…

Văn hóa ẩm thực: Trong bữa ăn hàng ngày thường có món xào và món canh. Khi có khách thìi thêm món luộc, rán. Ngày lễ tết có thịt quay, thịt nướng, chả và không thể thiếu món Khẩu nhục và phải dư lại một miếng ở bát, với ý nghĩa là nhớ tới miếng ăn sau. Đồ uống của người Giáy trong lễ tết chỉ có rượu, nước uống hàng ngày có nước cơm, nước chè, rau hoặc nước đun sôi có khi cả nước lã.

Y phục người Giáy giống người Hán, trang phục và trang sức khá đơn giản. Nam mặc quần lá tọa màu đen hoặc trắng, áo ngắn màu đen là chủ yếu, có màu trắng nhưng không có màu khác, cài khuy phải lệch sang trái, đầu đội khăn vải bông nhuộm nước chàm không thấm tạo thành những chấm trắng như sao với các hình vuông, chữ nhật, tam giác, quả chám, hình cây, lá… nữ giới cũng mặc quần như nam giới, nhưng là vải đen, mềm như vải láng, lụa, sa tanh. Khác của quần nữ là cạp quần có thể dùng vải màu, như màu đỏ và khâu luồn dây thắt (dải rút), còn nam chỉ vắt chéo và dung thắt lưng, áo nữ màu đen, đủ các loại màu nhưng lại không có màu trắng, cài khuy vải hoặc khuy bạc ở nách bên phải. Cổ đứng 3 cm, ở vạt cài khuy, viền tay áo có chắp vải khác nhau. Trang phục của phụ nữ còn có thêm nắm sợi len màu đỏ độn tóc (bằng sợi bông tự nhuộm). Nắm sợi độn tóc dài hơn tóc một chút để cuốn tóc quanh đầu sau đó là chiếc khăn cũng như khăn của nam giới đội đầu (nay đã sử dụng khăn vuông như người Kinh).

Về cảnh quan: Nằm trong địa phận của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, làng Tả Van Giáy là nơi hội tụ tinh hoa của đất trời. Theo con đường mòn Tả Van – Séo Mí Tỉ – Dền Thàng khoảng 7 km về hướng Đông Nam là tới cửa rừng bắt đầu chuyến tham quan cây Cầu Mây vắt vẻo giữa không trung, qua con suối Mường Hoa lững lờ trôi. Cây Cầu Mây được xây dựng đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong vùng. Năm đầu tiên xây cầu thật vất vả, huy động nhân lực cả xã, phải làm vào tháng 3 vì lúc đó nước ít thuận tiện cho việc lập cầu. Dưới sự chỉ đạo của Vàng Cò Liềng nhà nào có nhiều ruộng thì đóng góp 9 sợi Mây, mỗi sợi dài 45 sải, nhà nào ít ruộng góp 30 sải. Toàn xã có 15 -16 ngôi nhà thế mà làm trong 4 ngày là xong. Nguyên vật liệu làm hoàn toàn từ cây Mây, hai đầu giây chịu lực là các dây Mây nhỏ hơn để tạo nên độ vững chắc cho cây cầu. Một bên bám vào cây sung nay đã trên 200 tuổi ( theo lời kể của người dân). Cầu chỏ dành cho người qua lại còn gia súc phải vượt suối. Từ đó trở đi mỗi năm cầu được tu sửa một lần, 1- 2 ngày là xong. Nếu năm nay thôn người Giáy tu sửa thì năm sau là thôn người Mông (chỉ có hai thôn này tham gia sữa chữa cầu), mỗi làng từ 15 – 20 người. Throng khoảng năm 1948 – 1949, xã không làm lại cầu vì chiến tranh nên không có trưởng bản đứng ra chỉ đạo. Sau năm 1945 cầu Mây được làm lại, chia thành hai đợt, có sợi dây thép nhỏ ở phía trong, dây Mây bọc ngoài để tạo độ bền. Đợt 1: Chọn người biết làm (không huy động cả xã nữa), chia làm 4 tổ mỗi tổ 3 người, tiính công theo lúa mới, làm trong 1 tháng, được khoảng 2 năm thì bị nước lũ cuốn trôi. Đơt 2: cũng làm trong một tháng, cầu được sử dụng ch đến khi xây dựng cây cầu sắt (1964) thì người dân không sử dụng cầu Mây để qua sông nữa. Hiện nay, cây cầu Mây được giao cho ông Lê Văn Hà (dân tộc Kinh) quản lý, cầu được tu sửa lại năm 2005 và hoàn thành 2006 để thu hút khách du lịch.

Tả van Giáy nơi giàu tiềm năng du lịch – Văn hóa đang đón chào khách tham quan với tình thân thiện, mến khách.

(Nguồn: Sở VHTT Lào Cai)

PHÁT TRIỂN DU LỊCH 3 TỈNH: LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ

TÌM ĐẾN NHỮNG SẢN PHẨM DU LỊCH HẤP DẪN

Liên kết phát triển du lịch là một xu hướng mới trong thời gian gần đây. Năm 2004, 3 tỉnh Lào Cai – Phú Thọ – Yên Bái đã ký cam kết hợp tác phát triển du lịch thông qua chương trình Du lịch về cội nguồn. Từ đó hoạt động du lịch ở mỗi địa phương đã có những khởi sắc và tăng trưởng đáng kể, đóng góp và GDP của mỗi tỉnh, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác và tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương.

Theo kết quả khảo sát của Vụ lữ hành – Tổng cục Du lịch, Lào Cai có nhiều tiềm năng du lịch và phát triển nhất về du lịch thời gian qua so với hai địa phương còn lại. Sa Pa là trọng điểm của Lào Cai về thu hút khách, nhờ sức hấp dẫn về khí hậu, văn hóa dân tộc và cảnh quan thiên nhiên. Sa Pa là trung tâm du lịch của vùng Tây Bắc, thu hút rất nhiều khách trong nước và quốc tế. Đặc biệt là dãy Hoàng Liên với đỉnh Phan Xi Păng rất thích hợp cho các tour leo núi, du lịch mạo hiểm và sinh thái. Lào Cai còn có Mường Khương, Bắc Hà nổi tiếng về cảnh quan thiên nhiên đẹp và những phiên chợ văn hóa vùng cao đầy hấp dẫn. Bắc Hà có con đường từ trung tâm cụm xã Lùng Phình nối sang huyện Sín Mần (Hà Giang) đã được báo chí nước ngoài đánh giá là con đường “đẹp nhất Đông Dương”.

Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, thì du lịch 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ còn ít sản phẩm để “chào bán”, việc thu hút khách còn thiếu đa dạng nên lượng khách quốc tế chưa xứng với tiềm năng. Tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch còn hạn chế, cơ sở hạ tầng tới nhiều điểm du lịch còn kém, hoạt động tuyên truyền quảng bá về tiềm năng du lịch ở trong nước và nước ngoài chưa thường xuyên, đội ngũ nhân viên phục vụ du lịch còn hạn chế về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, môi trường cảnh quan tại nhiều điểm du lịch còn bị xâm hại. Thiên tai cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch của cả 3 tỉnh như cơn bãn số 4 xảy ra tháng 8/2008 làm cho du khách mắc kẹt ở Lào Cai, Yên Bái. Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cả 3 tỉnh phải quan tâm để có giải pháp khắc phục, thực sự tạo điều kiện cho du lịch phát triển xứng tầm với tiềm năng.

Tại Hội thảo về phát triển du lịch 3 tỉnh năm 2008, do UBND tỉnh Phú Thọ đăng cai tổ chức vừa qua, đã có tới gần 40 tham luận của các đại biểu từ Tổng cục Du lịch đến địa phương trong vùng liên kết. Các tham luận đều tập chung đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch phát triển. Trong đó có một số điểm chung như sau: Thứ nhất, 3 tỉnh cần tập chung xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch theo hướng độc đáo, mới lạ, hấp dẫn. Thứ hai, 3 tỉnh cần phát huy mối liên kết và đặt quan hệ giữa sự liên kết này với các tỉnh xung quanh như Hà Giang, Lai Châu, và cũng phải đặt quan hệ với trung tâm du lịch của cả nước là Hà Nội, với vai trò phân phối khách du lịch khu vực phía Bắc. Liên kết cơ sở hạ tầng giữa các địa phương cũng phải được coi trọng. Lào Cai cần đầu tư vào các tuyến đường từ Bắc Hà sang Xín Mần (Hà Giang), từ Sa Pa đi Lai Châu. Yên Bái cũng cần nâng cấp tuyến đường từ Mù Căng Chải đi Phú Thọ và đi Bình Lư (Lai Châu). Cũng về hạ tầng, cần xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước cho những vùng du lịch mới. Thứ 3, cần chuyển biến mạnh mẽ nhận thức về du lịch,chính quyền các cấp phải coi sự phát triển du lịch là một trong những hướng phát triển quan trọng, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ công tác xóa đói, giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa. Thứ 4, cần tập chung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch trong ngành, trong doanh nghiệp và trong cộng đồng. Tại cộng đồng, cần giáo dục đầy đủ nhận thức về vai trò của phát triển du lịch để xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, kết hợp với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch và thân thiện.

Thực hiện được 4 nhóm giải pháp trên, mối liên kết giữa 3 tỉnh sẽ được phát triển lên một mức độ mới, xây dựng được những sản phẩm du lịch đặc sắc, những tour hấp dẫn nhằm thu hút du khách quốc tế đến với Việt Nam nói chung và 3 tỉnh nói riêng.

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 178. – Ngày 22/11. – Tr. 3

NÚI PHAN SI PĂNG

Vị trí: Phan Si Păng nằm trong dãy núi Hoàng Liên Sơn, về phía tây nam thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Ðặc điểm: Phan Si Păng là ngọn núi cao nhất trong dãy núi Hoàng Liên Sơn với độ cao 3.143m. Đây là một bảo tàng thiên nhiên kỳ vĩ, ẩn chứa cả một thảm thực vật với nhiều loài đặc hữu.

Với chiều dài 280km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, chiều ngang chân núi rộng nhất khoảng 75km, hẹp là 45km, gồm ba khối, khối Bạch Mộc Lương Tử, khối Phan Si Păng và khối Pú Luông. Cả mái nhà đồ sộ này ẩn chứa bao điều kỳ lạ, nhưng kỳ lạ và bí ẩn nhất, chính là đỉnh Phan Si Păng…

Dưới chân núi là những cây gạo, cây mít, cây cơi với mật độ khá dầy tạo nên những địa danh Cốc Lếu (Cốc Gạo), Cốc San (Cốc Mít)…Từ đây đến độ cao 700m là vành đai nhiệt đới có những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700m trở lên là tầng cây hạt trần như cây pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao khoảng 50-60m, tuổi đời tới vài trăm năm. Pơmu (ngọc am) được mệnh danh là mỏ vàng của Lào Cai. Bên cạnh pơmu, còn nhiều loại gỗ quý hiếm khác như: lãnh sam, thiết sam, liễu sam, kim sam, thông đỏ, hoàng đàn…Các cây lá kim ken đầy với cây gỗ nhỏ trụi, thân luôn sũng nước vì càng lên cao, càng hay mưa, có năm cả Phan Si Păng mưa suốt một tháng liền. Xen lẫn với rừng lá kim, là các loại hoa đỗ quyên, phong lan, hoàng anh rực rỡ.

Hầu như bốn mùa, cả Sa Pa đều ngập tràn trong muôn sắc các loài hoa: lay ơn, thược dược, bgônha, estcola… là những thứ hoa dưới đồng bằng hiếm có. Riêng hoa đỗ quyên có tới bốn chi với hai chục loài khác nhau. Có nơi đỗ quyên chi chít, rực rỡ cả núi rừng. Ở nước ta có 111 chi phong lan và 643 loài thì riêng Phan Si Păng có tới 330 loài.

Lên cao 2.400m, gió mây quyện hoà với cây rừng, có lúc xòe tay ta tưởng đã nắm được mây. Từ độ cao 2.800m, mây mù bỗng tan biến, bầu trời quang đãng, trong xanh. Chỉ có gió thổi làm cho thảm thực vật phải dán mình vào đá. Phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25-30cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc họ cói, họ hoa hồng, họ hoàng liên…Đất xương xẩu trơ cả gốc, gió thổi không ngớt, khí hậu lạnh giá…

Trên điểm cao 2.963m có cột mốc đánh dấu năm 1905 người Pháp đã tới chinh phục đỉnh cao. Lên cao nữa là một khối đá khổng lồ, được kê lên bởi những hòn đá nhỏ tựa chiếc bàn. Đỉnh Phan Si Păng đấy! Tiếng địa phương gọi “Hua-si-pan”, nghĩa là phiến đá lớn khổng lồ nằm chênh vênh. Đỉnh Phan Si Păng cao ngất giữa trời mây được kết cấu bởi những phiến đá như vậy.

Phan Si Păng được ví là nóc nhà Việt Nam và của Đông Dương sừng sững đang chinh phục lòng ham mê leo núi của các du khách ưa mạo hiểm.

http://www.vietnamtourism.com

NÚI HÀM RỒNG

Vị trí: Núi Hàm Rồng nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 33km.

Ðặc điểm: Núi Hàm Rồng là mỏm đá vươn cao tựa đầu rồng.

Theo tương truyền, thủa hồng hoang, có đôi rồng đang mải mê quấn quýt bên nhau trong khi cơn hồng thuỷ đang ào ạt dâng sóng mà vẫn không hay. Đến khi choàng tỉnh, hốt hoảng rời nhau, rồi quẫy mình lên, nhưng không kịp. Tức thì mỗi con rời ra một nơi. Đến bây giờ rồng nàng tuy hoá đá, nhưng bản năng sinh tồn còn mãnh liệt vẫn cố ngước nhìn theo rồng chàng bên phía Hoàng Liên phía tây.

Núi Hàm Rồng được giao cho công ty xổ số tôn tạo và quản lý. Du khách hãy chống tay lên đầu gối hoặc chống cây gậy trúc leo từng bậc, chỉ một lát thôi là tới vườn lan trăm hình vạn sắc. Liên tiếp, trước mắt là một bình nguyên thu nhỏ rực màu hoa đào, hoa cỏ giữa tiết xuân. Đi nữa là rừng đá với cảm giác như lạc vào nơi bồng lai tiên cảnh, mà người xưa đã khéo tưởng tượng đó là những móng vuốt, lông vây của rồng. Trong cái hốc nơi vách đá kia như đang ẩn náu điều gì bí ẩn, bất chợt hiện ra qua ý tưởng của mỗi người.

Lần theo vách đá là đường lên cổng trời một và hai, bạn sẽ đứng trên mỏm đá ngất ngây trong cảm giác bay lượn mà thoả mắt nhìn xuống toàn cảnh thành phố trong sương. Nơi đây trời đất gặp gỡ, kia là chàng mây không giấu giấc mộng với nàng đá, dưới ánh sáng mờ ảo lung linh. Tới đây không những được tận hưởng cảnh sắc của đất trời, mà còn thưởng thức không khí trong lành của khí trời Sa Pa. Thế là bao ưu tư, phiền muộn trong lòng bỗng tan biến. Ngước lên, sẽ thấy nàng rồng như còn hối tiếc điều gì chưa hoàn tất của một thời sung sức. Du khách muốn thoả trí tò mò xin hãy leo lên mà thì thầm to nhỏ với con rồng đá.

Ai đến Sa Pa, không thể không leo núi Hàm Rồng mà trò chuyện với đá, với cỏ cây, gió hoang và mây trời để tăng thêm nghị lực cho ngày mai lại tiếp tục những cuộc hành trình mới đầy thú vị.

http://www.vietnamtourism.com/

Vị trí: Núi Cô Tiên thuộc huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Ðặc điểm: Theo tương truyền, có một nàng tiên xuống hạ giới du xuân, tới nơi đây thấy cảnh lạ thường, nên nặng lòng ở lại, vì vậy núi này được gọi là núi Cô Tiên.

Bắc Hà là một huyện vùng cao của Lào Cai, nằm trong vùng cao nguyên đá vôi của vòm sông Chảy. Theo vòng cung điệp trùng từ phía bắc huyện Si Ma Cai về gần tới gần thị trấn Bắc Hà ở độ cao trên 1000m, du khách gặp núi Cô Tiên đứng đơn lẻ ngất trời.

Đến với núi Cô Tiên – đến với địa thế có tầm nhìn. Trên vách đá phẳng rộng như được bàn tay nghệ nhân đẽo gọt tạo am nhỏ, đặt tượng bà Quan Âm mặt quay về phương Nam, du khách không những được thưởng thức những nét đẹp văn hoá truyền thống độc đáo của người vùng cao, mà còn được ngắm nhìn cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, và núi Cô Tiên sừng sững ngay trước mặt du khách. Bao quanh thị trấn như tràn ngập trong biển mây khi mùa hoa mận nhỏ, phiên chợ náo nhiệt với đầy đủ với sắc màu váy áo, dinh thự Hoàng A Tưởng trầm tĩnh uy nghi và những ngôi nhà tân thời, những thảm lúa, nương ngô, cánh rừng xanh ngắt, con đường ngoằn nghèo uốn quanh các quả núi… chứng minh cho sự thịnh vượng của một vùng đất.

http://www.vietnamtourism.com/

CHIÊM NGƯỠNG ĐỘNG TIÊN CỐC LY (BẮC HÀ)

Động là điểm dừng chân lý tưởng trong hành trình khám phá dọc sông Chảy. Đây là một quần thể gồm ba hang động, mỗi hang lại có vẻ đẹp riêng biệt. Động Cốc Ly là cả một thế giới của thạch nhũ muôn hình vạn dạng treo mình lộn ngược và bị che kín bởi bức rèm bằng dây leo ngoài cửa hang. Động giống như một mê cung kỳ vĩ được thiên nhiên tác tạo, nhũ đá mang dáng dấp của tháp cổ to nhỏ kết hợp với những luồng sáng hiếm hoi hắt vào khiến không gian bên trong thêm huyền ảo. Động này còn là nơi trú ngụ của các loài dơi núi.

MÙA XUÂN TRÊN CAO NGUYÊN TRẮNG

Hùng vĩ, sống động mà vẫn nên thơ và lãng mạn với những cánh rừng sa mu xanh thắm, rừng đào hồng thắm, rừng mận tam hoa bạt ngàn nở trắng cao nguyên… phong cảnh thiên nhiên mùa xuân ở cao nguyên Bắc Hà – “Sa Pa thứ hai” của Lào Cai – hiện ra thật đẹp!

Bức tranh phong cảnh mùa xuân cao nguyên còn được tô điểm bởi vẻ đẹp của những cánh rừng nguyên sinh hùng vĩ, rừng sa mu xanh thắm, rừng đào hồng và vẻ đẹp của muôn hoa đua nở.

Ở Bắc Hà người dân tộc Mông chiếm gần 50% dân số và sống ở các xã trong huyện, riêng các xã Bản Phố, Lầu Thí Ngài, Tả Văn Chư, Bản Già, Lùng Cải, Hoàng Thu… có đến 100% dân số là người Mông.

Bắt đầu từ cuối tháng 11 dương lịch, người Mông tranh thủ lúc nông nhàn nấu rượu tết, cả bản tràn đầy mùi hương thơm nồng của rượu ngô, khói trắng tỏa nghi ngút. Từ ngày 14, 15 đến ngày 26, 27-12 âm lịch, người Mông mổ lợn tết mời anh em, bạn bè về ăn, biếu ông bà, cha mẹ và một phần chế biến thành các món ăn hoặc đem ướp, một phần đem treo làm món thịt lợn hun khói. Gần ngày tết thì mọi người bắt đầu giã bánh dày.

Các món ăn đặc sản trong ngày tết của người Mông phải kể đến là thịt lợn hun khói, tiết canh gà, canh gà gừng, mèn mén, lợn cắp nách, gà ô kê, bánh dày…

Ngoài mục đích chính của nghi lễ là cầu cúng tổ tiên phù hộ năm mới mọi người trong dòng họ, gia đình được mạnh khỏe, cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm, cuộc sống yên vui, ấm no, hạnh phúc; lễ tết nhảy còn nhằm ôn lại các điệu nhảy truyền thống để tỏ rõ sức mạnh của dòng tộc. Trước khi tổ chức lễ tết nhảy, người ta mời hai ông thầy cúng chính là “chải miến” chủ yếu lo việc cúng ma, cúng tổ tiên và một thầy cúng mùa thiêng gọi là “khoi tàn”.

TRẦN THÚY HƯỜNG – TTO

MỘT THOÁNG SIMACAI

Người Si Ma Cai thật thà, chất phác, với những phong tục tập quán phong phú, mang bản sắc văn hóa riêng, còn nguyên vẹn của từng dân tộc thiểu số.

Nghỉ đêm ở Si Ma Cai có cảm giác ấm áp như chính ở trong ngôi nhà mình, như trút bỏ hết mọi phần bộn bề của cuộc sống. Mới 4 giờ sáng, trời còn rét căm căm nhưng tiếng vó ngựa đã khua vang đầu dốc đá, tiếng chào hỏi của người đi chợ sớm, văng vẳng trong không gian bài hát Người Mông ơn Đảng phát ra từ chiếc đài pin của một chàng trai Mông nào đó… Tất cả như thúc giục lôi cuốn mọi người đến với chợ phiên vùng cao.

Chủ nhật là ngày chính của chợ trung tâm Si Ma Cai. Đi trong ánh đuốc, sống và thở trong bầu không khí lãng mạn, độc nhất vô nhị không ở đâu có, chúng tôi hòa vào dòng người xuống chợ.

Gọi là xuống chợ nhưng thực ra chợ Si Ma Cai nằm ở lưng chừng dốc, chợ được xây dựng từ thời Pháp, trải qua những bước thăng trầm của lịch sử nhưng những dấu ấn còn lại đã cho thấy từ lâu đây đã là một trung tâm sầm uất về mua bán, giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa đồng bào các dân tộc và nhân dân 2 bên biên giới Việt – Trung.

Trời bắt đầu sáng, từ mọi phía mây ùn ùn trắng xóa. Phía dưới là Phố Mới, xã Bản Mế và xã Nàn Sán một màu trắng của mây, của hoa mơ, hoa mận. Không gian tuyệt vời. 8 giờ sáng, ánh nắng mỏng manh vừa đủ lan tỏa ôm lấy thị trấn cũng là lúc người ở các bản xa về tới chợ.

Hàng hóa tấp nập xen lẫn tiếng gọi nhau, tiếng mặc cả, chào hàng đủ ngôn ngữ của 5 tộc người, nào ngựa, trâu, bò, vịt, gà… như phá tan cái giá lạnh của mùa đông ở đây. Các chảo thắng cố bắt đầu bốc khói.

Để đến được các chợ phiên đồng bào ở đây phải vượt rừng đi chợ từ 2-3 giờ sáng, khi đi trời còn rất tối, khi con gà mới cất tiếng gáy sang canh, cho nên khi đi bao giờ cũng có một nắm cơm hay chút ít mèn mén để đến chợ rồi lại vừa kịp bữa sáng.

Đến chợ vùng cao Si Ma Cai mà không ăn thắng cố, không dùng mèn mén, không uống rượu ngô, đậu chua thì chưa gọi là đi chợ. Thắng cố ngon nhất chợ là thắng cố ngựa nhà ông Hòa và ông Đế đã từng được tham dự ở Lễ hội văn hóa ẩm thực nhân dịp kỷ niệm 100 năm Sa Pa.

Mới đây người dân lại mới khôi phục thêm món thắng cố chó. Cung cách phục vụ của đồng bào ở đây cũng rất đặc biệt: khách có thể tự chọn cho mình những món khoái khẩu mà không cần phải mặc cả hay ngại ngần, có thể lấy nhiều nước chan với mèn mén, cũng có thể ăn toàn thịt… chủ hàng vẫn vui vẻ và đó là điều hấp dẫn mà không có phiên chợ nào ở Việt Nam có được.

Giá của mỗi bát thắng cố dao động từ 15.000-20.000 đồng tùy vào ngày chợ có nhiều hay ít chảo thắng cố. Ông chủ hàng thắng cố luôn thường trực trên môi nụ cười rạng rỡ, gần gũi và thân thiện.

Một chút rượu, vài nghìn tiền đậu chua và mèn mén với bát thắng cố nóng bỏng, hương vị vùng cao như thấm dần vào cơ thể. Cảm giác thật dễ chịu, ấm nồng hơi men, thắng cố đậm đà, ngọt ngào, quyến rũ bởi gia vị riêng chỉ đất, rừng và người Si Ma Cai mới có.

Xung quanh các chảo thắng cố nghi ngút khói, đồng bào khắp nơi về chợ đã quây quanh, người thì uống rượu với thắng cố, người thì mua 1 chút thắng cố ăn cùng mèn mén, có người dùng bữa sáng bằng cơm nắm nấu từ gạo nương dẻo chắc được chuẩn bị từ nhà ra ăn…

Không gian, thời gian như ngưng đọng. Khói từ bếp củi bốc lên, khói từ các chảo thắng cố, các bếp lửa xung quanh bốc lên cứ vấn vít quẩn quanh người đi chợ, nửa như níu giữ, nửa như đùa giỡn làm ai nấy mắt mũi cay xè.

Mọi thứ chất ngất từ váy, áo, vòng tay, vòng cổ, dép nhựa, đèn pin, đài pin, dụng cụ sản xuất, thực phẩm, gia cầm, từ chõ xôi 7 màu, đến quả dưa chuột hơi quá lứa, ổ gà vẫn chưa nở hết… tất cả những gì đồng bào sản xuất đều được mang đến chợ.

Ở Si Ma Cai, ngoài chợ trung tâm, các chợ phiên vùng cao khác họp vào các ngày trong tuần, hàng hóa chủ yếu là các nhu yếu phẩm phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Đặc biệt ở đây ngày nào hầu như cũng có chợ, mặc dù mỗi ngày 1 phiên nhưng mỗi chợ ở đây đều mang tính chất riêng, đặc thù riêng: chợ Bến Mảng (xã Nàn Sán) mở vào các ngày đầu tuần.

Đây là phiên chợ giáp biên, nơi giao lưu trao đổi hàng hóa của người dân 2 nước láng giềng Việt – Trung. Chợ Sín Chéng (xã Sín Chéng) mở vào 2 ngày thứ 4 và thứ 5. Chợ Cóc Cù (xã Bản Mế) thì mở vào thứ 6. Chợ Cán Cấu (xã Cán Cấu) thì mở vào thứ 7. Chợ này là nơi người dân 2 bên biên giới và các huyện bạn đến đây trao đổi, mua bán ngựa, trâu, bò.

Chiều dần buông. Những người mua được hay không bán được hàng cũng hả hê vì gặp được bạn bè ở xa về, hay cũng được dịp xuống chợ tặng mình một bữa khoái khẩu. Trai gái đưa mắt nhìn nhau hẹn tuần sau lại xuống, các bé em theo mẹ xuống chợ lại được thêm chiếc áo mới… Tất cả đều hiển hiện như một bức tranh vui tươi, sống động.

Tạm biệt Si Ma Cai, trở về thành phố với một niềm vui bất tận. Ai đó không quên đem theo về vài nhánh đào phai nở sớm, chút rượu ngô làm quà tặng bạn. Si Ma Cai thực sự là điểm đến lý tưởng cho những du khách yêu thích thiên nhiên, yêu sự hoang sơ, mộc mạc nơi vùng cao biên giới.

MEN SAY BẢN PHỐ

Hơn 100 năm trước, khi người Pháp tới Lào Cai phát hiện ra Sa Pa, biến nơi đây thành khu du lịch trong mây tuyệt đẹp thì đồng thời cũng khám phá thung lũng Bắc Hà, xây dựng nên phố núi mờ sương. Ngoài thiên nhiên tươi đẹp, Bắc Hà là đất có rượu ngô ngon nổi tiếng.

Bắc Hà cách thị xã Lào Cai 70km, là một huyện cao hơn mặt biển 900m, nép dưới dãy Hoàng Liên Sơn, không khí mát mẻ. Thị trấn Bắc Hà với phiên chợ vào chủ nhật hàng tuần có từ trăm năm nay, thu hút khách du lịch bốn phương không chỉ do màu sắc quyến rũ đặc trưng chợ vùng cao mà còn bởi rượu Bản Phố, loại rượu làm bất cứ ai một lần nếm thử phải ngây ngất, ngay cả những đệ tử Lưu Linh.

Bản Phố là bản nhỏ của người Mông, cách thị trấn Bắc Hà 4km, đường đi lên bản quanh co uốn lượn theo sườn núi, phía dưới là những thung lũng xanh mượt màu lúa, ngô, bên đường là những cánh rừng mận Tam hoa ngút mắt đang mùa quả. Theo như thống kê của huyện thì Bản Phố là một xã vùng cao của huyện Bắc Hà, có 13 thôn bản, gồm 558 hộ với 3.031 người dân, người Mông chiếm phần lớn nhất.

Ở đây không phải ngẫu nhiên mà diện tích trồng lúa chỉ có 82ha,trong khi ngô chiếm 300ha – vì ngô là nguyên liệu chính để làm ra thứ rượu Bản Phố mê hoặc bà con từ miền xuôi lẫn miền ngược. Đến Bản Phố, vào bất cứ nhà nào, ở một góc rộng trong bếp lửa là lò nấu rượu, không phải lúc nào lò cũng đỏ lửa. Một tuần một lần, họ chỉ nấu một ngày, thường vào thứ Sáu, để có rượu mới mang xuống chợ phiên Cán Cấu – thứ bảy, Bắc Hà – chủ nhật.

Rượu Bản Phố được làm không cầu kỳ phức tạp ở cách thức, nhưng có bí quyết riêng mà nếu có đem công thức đến nơi khác làm cũng không ra được cái hương vị rượu như ở nơi này. Theo như người dân ở đây nói, rượu Bản Phố phải lấy nước từ suối Hang Dể, phải thấm cái sương núi khí trời ở Bản Phố vào hạt ngô, phải ngấm cái nắng cái gió của núi Hoàng Liên vào hoa, hạt Hồng mị, thứ hạt làm men rượu chỉ có ở đây.

Ngô hạt vàng hay trắng được tách hạt, đồ chín, để nguội, giã hạt và hoa Hồng mị (hạt Hồng mị như hạt kê, hoa khô màu hồng nhạt có mùi thơm rất lạ) trộn vào, rồi rải trên sàn đất có lót tấm nilông, qua một đêm, lấy gói vào túi kín hay bỏ vào thùng gỗ ủ 3-5 ngày mới mang ra chưng cất thành rượu. Dụng cụ chưng cất là một chảo gang lớn, được quây xung quanh bằng chiếc thùng gỗ đóng đai rất kín, đặt trên lò đất đắp rộng chừng 3m2, phải để lửa cháy liên tục bảo đảm chất lượng rượu.

Rượu ngưng tụ chảy ra ngoài bằng một máng gỗ được làm rất công phu, nối với ống dẫn rượu cũng làm bằng gỗ cho chảy vào bình, lọ… Thông thường, 3kg ngô làm được 1 lit rượu khoảng 40-45 độ, có nhà làm kỹ được loại rượu 60 độ, giá bán 8.000 đồng/lít, mỗi nhà mỗi phiên chợ thường nấu khoảng 20 lít mang xuống chợ.

Vào bếp những nhà người Mông đang nấu rượu cũng là một khám phá thú vị. Bếp nhà nào phía trên cũng treo lủng lẳng nhiều xâu thịt cả trâu, bò, dê, lợn…, thứ thịt xông khói nấu rượu này có hương vị cũng rất đặc biệt mà có lẽ không đâu có được. Không những thế người chủ nhà còn cho khách thưởng thức kiểu uống rượu, ăn thịt rất Bản Phố. Rượu vừa cất xong còn ấm, đựng trong coóng gỗ, lấy ít rượu đổ vào cái đĩa sành châm lửa nướng thịt khô, một tay cầm coóng uống rượu, tay kia nướng thịt ăn ngay bên lò nấu rượu. Rượu mới, uống hơi hăng nhưng sau vị ngọt say cay nồng như quyện vào vị ngọt béo của thịt…

Rượu Bản Phố, từ mùa xuân Đinh Hợi 2007 đã làm một cuộc du ngoạn về xuôi, sánh vai với các danh tửu mọi miền đất nước trong một cuộc trưng bày triển lãm Rượu-Hoa-Câu đối ở Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Hà Nội. Cái thứ nước trong vắt, đựng trong chai thuỷ tinh trong suốt, khi lắc nhẹ, sủi tăm lăn tăn mang hấp lực mới, không hoang mộc thô sơ như khi ở Bản Phố mà mang một vẻ đẹp khác không kém phần duyên dáng…

Chợ Bắc Hà, chợ Cán Cấu, chợ Simacai và cả ở phía bên kia dãy Hoàng Liên Sơn ở độ cao 1.600m của miền Hồng Hồ – Sa Pa huyền ảo trong mây cũng không thể thiếu được rượu Bản Phố. Bản Phố cũng trở thành một địa chỉ du lịch lý thú cho tất cả khách phương xa đến với Bắc Hà.

(Theo Website: vietnamtourism.com)

LÀO CAI QUYẾN RŨ

Nơi ấy có những con đường ngoằn ngoèo vắt ngang núi, rồi mất hút trong ngút ngàn màu xanh của cây rừng. Những ngôi nhà chìm khuất trong mây thoắt ẩn, thoắt hiện. Những vách núi sừng sững giữa trời. Đâu đó những thác nước trắng xóa từ trên cao đổ xuống đầy kiêu hãnh. Sự kỳ vĩ của thiên nhiên Ý Tý khiến ai đó nếu từng đến và được ngập chìm giữa bao la, khoáng đạt, mênh mang và vĩ đại của đất trời, sẽ không thể quên được cảm xúc tuyệt vời này.

Có phải vì thế mà khi đặt chân đến Ý Tý, nhiều người cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới khác, giống như một giấc mơ cổ tích. Nếu lên Ý Tý vào ngày thứ bảy, du khách sẽ được hòa mình vào phiên chợ văn hóa với rực rỡ sắc màu thổ cẩm của các dân tộc Mông, Dao, Giáy, Hà Nhì. Mỗi dân tộc một kiểu trang phục, một cách vấn khăn, một lối trang sức. Không lẫn vào nhau mà cùng nhau làm cho bức tranh Ý Tý trở nên đa sắc màu.

Với thiết kế hình chữ nhật, nhà trình tường có một cửa chính và “cửa tò vò” thông gió ở trên cao, không cửa sổ, nhưng mùa đông rất ấm áp mà mùa hè lại mát mẻ. Tường nhà được nện bằng đất rất dày. Mái nhà được lợp bằng gỗ hoặc cỏ tranh, theo kiểu hình tròn hoặc hình chóp. Không chỉ gìn giữ những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc, là nơi có khí hậu, cảnh quan núi rừng hùng vĩ, Ý Tý còn ẩn chứa nhiều tiềm năng trong phát triển kinh tế, lao động sản xuất. Trong những khu rừng già, cây thảo quả trở thành nguồn “vàng nâu” quý giá cho vùng đất này.

LÀO CAI: HẤP DẪN DU LỊCH LÀNG NGHỀ

Tại các xã vùng cao Lào Cai, việc bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống luôn được chú trọng. Nhiều làng nghề đã tạo thương hiệu trên thị trường, với sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương mà còn trở thành hàng hoá được người tiêu dùng ưu chuộng. Sa Pa, Bắc Hà có nhiều tiềm năng để phát triển các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch. Nơi đây, các sản phẩm thêu, dệt thổ cẩm, chạm khắc bạc, mây tre đan, rèn đúc, nấu rượu… được nhiều du khách tìm đến chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn. Mỗi khi đến với Sa Pa, Bắc Hà, khách du lịch không quên mua cho mình những sản phẩm thổ cẩm, đồ trang sức, rượu… được sản xuất từ những làng nghề truyền thống Tả Phìn, Cát Cát, Sa Pả, San Sả Hồ (Sa Pa); Bản Phô, Na Hối (Bắc Hà)… để làm quà.

Để bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống, những năm qua, Sở Công Thương Lào Cai đã có nhiều hoạt động hỗ trợ đào tạo khôi phục các làng nghề. Ngoài việc tổ chức cũng như tham gia các hội chợ để tìm kiếm đơn đặt hàng, Trung tâm Khuyến công đã tìm đối tác là Hợp tác xã Phố Núi (Sa Pa) chuyên thu gom sản phẩm xuất khẩu. Một số sản phẩm làng nghề nhờ đó dần khẳng định uy tín, không chỉ có mặt ở thị trường trong nước mà xuất khẩu sang các nước trong khu vực và châu Âu. Đây là yếu tố quan trọng góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao.

Các làng nghề truyền thống ở Lào Cai còn được biết đến bởi các sản phẩm: rượu San Lùng, rượu ngô Bản Phố được nhân dân thôn San Lùng (Bát Xát) và thôn Bản Phố (Bắc Hà) sản xuất theo những bí quyết lâu đời. Rượu nổi tiếng trong nước được khách du lịch tin dùng.

Thực hiện chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công Thương) phối hợp với các ban, ngành, địa phương tăng cường đào tạo kỹ thuật và thiết kế sản phẩm cho thợ thủ công. Thực hiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ xây dựng mô hình tổ chức sản xuất; khảo sát nghiên cứu thị trường và tham gia các kỳ hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại. Đặc biệt, thực hiện đề án: khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống gắn với du lịch tại thôn Cát Cát và xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại thị trấn Bắc Hà.

Lào Cai không chỉ có vẻ đẹp được thiên nhiên ban tặng, các làng nghề truyền thống sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách trong hành trình khám phá bản sắc văn hoá dân tộc đa dạng trong những năm tới.

Nguồn: báo Lào Cai

LÀO CAI: ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN CỦA DU KHÁCH

Nổi tiếng là địa phương giàu tiềm năng về du lịch, đã từ lâu Lào Cai được biết đến không chỉ những địa danh có cảnh quan thiên nhiên đẹp mà còn hấp dẫn du khách bởi những nét văn hoá dân tộc độc đáo vùng cao.

Các điểm du lịch nổi tiếng như Sa Pa, Bắc Hà, Mường Khương… đều rất thích hợp cho việc tổ chức các tour du lịch đi bộ, leo núi. Đặc biệt là loại hình du lịch cộng đồng khám phá vẻ đẹp văn hoá bản làng của đồng bào các dân tộc và những phiên chợ đặc sắc dưới chân núi đã trở nên thân quen với du khách mọi miền.

Bản làng là nơi quần cư của các tộc người thiểu số Mông, Dao, Hà Nhì, Tu Dí, Pa Dí, Tày, Nùng… Ở đó, có những nét đẹp trong phong tục văn hoá, trong kiến trúc nhà cửa cũng như phong cảnh thiên nhiên.

Đến với Lào Cai, hình ảnh dễ lưu lại trong ký ức của du khách là các bản làng với những ngôi nhà trình tường đất giống như những cây nấm khổng lồ ẩn hiện trong sương mù của vùng cao Ý Tý, hay những bản làng của người Mông vùng cao Bắc Hà, Si Ma Cai. Cũng là lối trình tường đất nhưng mỗi tộc người lại có những kiến trúc độc đáo khác nhau, mang bản sắc cũng như quan niệm riêng của dân tộc mình. Lên thăm các bản làng vắt vẻo nằm tít trên cao đỉnh núi, nơi cứ ngỡ “với tay là chạm tới trời xanh” ấy, có những con người quanh năm vẫn bám trụ sinh sống và gìn giữ những bản sắc riêng của dân tộc mình. Những lễ hội cầu mùa, hội hát qua làng, lễ hội xuống đồng đầu năm mới… tất cả đều là sự hội tụ những tinh hoa, cốt cách của người vùng cao, làm nên bản sắc riêng với những giá trị văn hoá độc đáo. Mỗi bản làng có những hương ước, quy ước riêng, nhưng tựu chung lại đều là những nét đẹp trong các nghi lễ văn hoá cũng như tín ngưỡng của mỗi thành phần dân tộc. Điển hình như các phong tục bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng cấm, lễ hội rước nước, lễ cấp sắc cho con trai đến tuổi trưởng thành, hay nghi lễ nhận bố mẹ nuôi… Nếu lên vùng cao vào đúng mùa lễ hội, du khách sẽ được khám phá những phong tục độc đáo, đặc sắc như thế.

Không chỉ có vậy, vài năm trở lại đây, những bản làng văn hoá còn được đưa vào gìn giữ và khai thác phục vụ hoạt động du lịch. Những tua du lịch “Khám phá nét đẹp văn hoá bản làng” đã trở nên hấp dẫn đối với các Công ty lữ hành. Với hình thức “trackking tour” du khách vừa tản bộ, vừa khám phá cảnh sắc thiên nhiên, đắm mình trong những nét văn hoá độc đáo của mỗi dân tộc và cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất thường nhật rất bình dị của họ. Bên những ngôi nhà trình tường đất của đồng bào Hà Nhì, Mông, Nùng nơi vùng cao hay những nếp nhà sàn của người Tày ở Văn Bàn, Bảo Yên là những vườn rau nhỏ, chiếc lu chứa nước và chiếc sào phơi váy áo thổ cẩm rực rỡ như điểm tô thêm nét văn hoá rất đời thường mà gần gũi… Tiếp nữa, khi vào thăm những bản làng làm nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, nấu rượu ngô, rượu thóc, rèn đúc nông cụ, chạm khắc bạc làm đồ trang sức… sẽ thấy người dân vùng cao rất cần mẫn trong lao động, sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo từ chính bàn tay lao động mà không cần đến những phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại nào hỗ trợ. Đặc biệt, dừng chân bất cứ nơi nào, du khách đều có cơ hội được thưởng thức những món ẩm thực dân dã mang đậm hương vị của vùng cao để rồi không muốn rời chân và cứ muốn lưu lại mãi nơi đây, muốn đi tận cùng để khám phá hết những bí ẩn hấp dẫn trong nét văn hoá của bản làng ở Lào Cai. Thế nhưng càng khám phá càng nhận ra cái mênh mông vô tận của văn hoá bản làng vùng cao, chả thế mà đã có bao nhiêu nhà nghiên cứu, sưu tầm đã mê say miệt mài bao nhiêu năm nay mà vẫn tìm ra được những điều mới lạ, cuốn hút đến không thể phủ nhận.

Đặc sắc phiên chợ vùng cao

Luôn là mong muốn phải tìm hiểu, khám phá của mỗi du khách khi đến với Sa Pa, chợ tình Sa Pa hấp dẫn ngay từ chính cái tên gọi đầy chất lãng mạn, tình yêu. Không hề có cảnh mua bán trao đổi hàng hoá như hoạt động chủ yếu của các phiên chợ mà chợ tình Sa Pa chỉ là nơi vui chơi của đồng bào người Dao, Mông, nhiều nhất là các cô gái và chàng trai đến để hẹn hò, thổ lộ tình cảm tìm kiếm bạn tình duyên được gửi gắm qua những ánh mắt, điệu khèn, tiếng sáo du dương… Điều đặc biệt ở đây là cả những người đã có gia đình nhưng vẫn đến để vui chơi, gặp mặt, tìm lại bạn cũ, người xưa… Mặc dù mỗi tuần chợ chỉ diễn ra một lần vào tối thứ bảy nhưng ngay từ buổi chiều, thậm chí buổi sáng hôm đó, ở dưới phố và sân nhà thờ Sa Pa, đã có rất nhiều thiếu nữ mặc trang phục thêu hoa văn lộng lẫy, đầu quấn khăn đỏ tươi đính kèm những vòng bạc, khuy bạc và những chùm lục lạc xinh xắn tạo nên những tiếng nhạc vui tươi hấp dẫn. Để rồi ngay từ chập tối cho đến đêm khuya, chợ đã ngập tràn không gian lãng mạn của điệu khèn, tiếng kèn lá, kèn môi du dương đằm thắm. Mang nhiều nét chung của các phiên chợ vùng cao nhất vẫn là chợ văn hoá Bắc Hà. Diễn ra vào ngày nghỉ cuối tuần, chợ văn hoá Bắc Hà là nơi tụ họp của đồng bào Mông vùng cao Bắc Hà và các khu vực lân cận nên rất đông vui nhộn nhịp, là điểm đến hấp dẫn của rất nhiều du khách nước ngoài. Hàng hoá trao đổi mua bán ở chợ cũng rất phong phú, ngoài các loại nhu yếu phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, chợ còn có các sản vât mang đậm hương sắc vùng cao. Đó là những váy áo, sản phẩm thổ cẩm được thêu thùa rất kỳ công, khéo léo, những con lợn cắp nắch, gà leo đồi, ngựa thồ, trâu kéo và những món ẩm thực độc đáo như: phởã chua, mèn mén, bánh trưng đen, lạp sườn, thịt hun khói, sôi bảy mầu và món rượu ngô Bản Phố.

Không giống như chợ Bắc Hà hay Cán Cấu (Si Ma Cai), chợ Cốc Ly của đồng bào Mông Hoa và người Tày chỉ họp vào thứ ba hàng tuần. Chợ cũng là điểm dừng chân cuối cùng của du khách trong chuyến hành trình bằng du thuyền khám phá sông Chảy ở Bắc Hà. Đây là chợ duy nhất dùng hàng để đổi hàng, có thể không cần dùng đến tiền, có khi là đổi gà lấy ngựa, đổi thóc gạo lấy chó, mèo hoặc đổi các sản vật nông nghiệp lấy giống lúa nương, lấy con trâu, con ngựa thồ để phục vụ đời sống gia đình và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Cái thú nữa là khách du lịch có thể mua hàng thổ cẩm và các sản phẩm địa phương như vòng nhẫn, lắc bạc xinh xắn của các cô gái người Mông về làm quà cho người thân và nghe họ hát mà không phải trả tiển. Đến đây, sau chuyến hành trình, du khách sẽ được thưởng thức những ly rượu nồng say được chưng cất từ hương rừng để rồi chuếnh choáng mơ tưởng đến sóng nước vùng sơn cước và những con thuyền hoa cổ tích đỏ rực trong huyền thoại.

Hấp dẫn du lịch leo núi, đua ngựa

Bên cạnh những loại hình du lịch nghỉ dưỡng, khám phá bản làng văn hoá của các dân tộc thiểu số, những phong cảnh thiên nhiên cũng như những nét độc đáo trong văn hoá ẩm thực, đến Lào Cai du khách còn được tham gia tour du lịch mạo hiểm leo núi. 2 năm trở lại đây, trong hành trình “Du lịch về cội nguồn” đã có thêm tour du lịch Chinh phục đỉnh Phan Xi Păng và khám phá thiên nhiên độc đáo Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa). Tại thị trấn Bắc Hà, có điểm du lịch leo núi ba mẹ con và giải đua ngựa của đồng bào Mông.

Được ví như “Nóc nhà Đông Dương” đỉnh Phan Xi Păng không chỉ là niềm ao ước chinh phục của các nhà leo núi chuyên nghiệp, các vận động viên thể thao mà còn là điểm khám phá hấp dẫn và vô cùng độc đáo của du khách khi đến Sa Pa nói riêng và Lào Cai nói chung. Trong chặng đường chinh phục đỉnh Phan Xi Păng, du khách sẽ lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, ngợp dưới trời hoa đỗ quyên, rừng Vân Sam cổ thụ, khám phá vẻ đẹp của thác Vàng, thác Tình yêu, của bạt ngàn rừng trúc phất trần. Ở mỗi độ cao, du khách sẽ được tận hưởng một không gian rất riêng với những cảm giác kỳ thú, hứng khởi, thậm chí cả sợ hãi mà hiếm có loại hình du lịch nào có được. Nơi đây, có nhiều loại hoa, loài cây mang tính đặc hữu chỉ có ở Sa Pa. Theo cảm tưởng của rất nhiều người đã từng leo lên Phan Xi Păng, thì trong niềm khát khao chinh phục, có những lúc tưởng chừng như không thể leo lên nổi nhưng rồi khi đã ở độ cao hơn, thì lại thấy phải chiến thắng bản thân mình để tiếp tục có cơ hội được thưởng thức cái cảm giác tuyệt vời hơn bao giờ hết, mà không phải ai cũng đủ sức để làm được. Trong 5 năm trở lại đây, rất nhiều du khách đến nghỉ dưỡng ở Sa Pa, đặc biệt là đối với du khách quốc tế ngoài khám phá du lịch bản làng người Mông, người Dao ở Tả Phìn, Tả Van hay Bản Hồ… đều không bỏ qua lịch trình khám phá vẻ đẹp quyến rũ của núi rừng Hoàng Liên, nhất là vào mùa Xuân.

Cùng với đỉnh núi Phan Xi Păng, ngọn núi huyền thoại “Ba mẹ con” mới đây cũng được đưa vào hành trình khám phá du lịch Bắc Hà. Giữa một thị trấn du lịch nổi tiếng, ngọn núi trở thành điểm nhấn trong cảnh sắc thiên nhiên, tô thêm vẻ hùng vĩ của núi rừng miền sơn cước. Dưới chân núi này, hàng năm đã diễn ra “Tuần văn hoá du lịch Bắc Hà” đã thu hút hàng vạn du khách thập phương đến đây hoà cùng niềm vui trong lễ hội của các dân tộc thiểu số trên cao nguyên hoa mận trắng. Đặc sắc hơn cả, du khách sẽ hoà mình vào không gian náo nức, hò reo của lễ hội đua ngựa với những chàng kỵå sỹ người Mông.

Cảnh đẹp như chốn thiên đường này chỉ có thể bắt gặp trên đỉnh Fansipan.

Ngoài cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, sự thân thiện mến khách của đồng bào các dân tộc Lào Cai, lợi thế về du lịch mạo hiểm leo núi và các môn thể thao truyền thống đã làm phong phú thêm loại hình du lịch địa phương. Bạn bè bốn phương đến đây đã không quên lưu giữ trong ký ức một điểm đến hấp dẫn…

LÀNG CÁT CÁT Ở SAPA

Vị trí: Làng Cát Cát thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa Pa 2km.

Qua những khung dệt, người Mông tạo nên những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc và hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa, muông thú… Gắn liền với công đoạn dệt vải bông, vải lanh là khâu nhuộm và in thêu hoa văn, phổ biến là kỹ thuật nhuộm chàm, nhuộm nước tro thảo mộc và cây lá rừng. Vải nhuộm xong được đánh bóng bằng cách lăn vải với khúc gỗ tròn trên phiến đá phẳng có bôi sáp ong.

Ở làng Cát Cát, nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng đã có từ lâu đời và tạo ra những sản phẩm tinh xảo. Quy trình chế tác bạc gồm nhiều công đoạn. Trước hết, họ cho bạc vào nồi trên bễ lò đun đến khi nóng chảy thì rót vào máng. Chờ khi bạc nguội lấy ra dùng búa đập, rèn sao cho thanh bạc có kích cỡ to, nhỏ, dài, ngắn, vuông, tam giác, tròn, dẹt hay kéo thành sợi. Tiếp đó, họ giũa cho thật nhẵn và nếu cần trang trí thì dùng đinh để chạm khắc, tạo hoa văn nổi hoặc chìm rồi mới uốn hình sản phẩm. Cuối cùng là bước đánh nhẵn, làm trắng và bóng. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

Một điều hấp dẫn du khách khi đến Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ. Khi người con trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bè và nhờ các bạn lập kế hoạch “kéo” cô gái về nhà một cách bất ngờ, giữ cô trong ba ngày. Sau đó, nếu cô gái đồng ý làm vợ chàng trai thì sẽ tiến hành lễ cưới chính thức. Nếu cô từ chối thì họ cùng nhau uống bát rượu kết bạn và mọi việc trở lại bình thường như chưa có điều gì xảy ra. Lễ cưới người Mông ở Cát Cát thường được tổ chức từ 2 đến 7 ngày.

Kiến trúc nhà cửa người Mông làng Cát Cát còn nhiều nét cổ: nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu. Bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang. Các cột đều được kê trên phiến đá tròn hoặc vuông. Vách được lợp bằng gỗ xẻ, có 3 cửa ra vào: cửa chính ở gian giữa, 2 cửa phụ ở hai đầu nhà. Cửa chính luôn được đóng kín, chỉ mở khi có việc lớn như đám cưới, tang ma, cúng ma vào dịp lễ Tết. Trong nhà có không gian thờ, sàn gác lương thực dự trữ, nơi ngủ, bếp và nơi tiếp khách.

Làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Họ trồng lúa trên ruộng bậc thang, trồng ngô trên núi theo phương pháp canh tác thủ công, sản lượng thấp. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng…

http://www.vietnamtourism.com

KHÁM PHÁ TẢ PHÌN – SAPA VÀ THUNG LŨNG HOA HỒNG

Đặc sắc lễ hội và nghề thủ công

Ngoài thiên nhiên hoang sơ và lễ hội truyền thống, Tả Phìn hút hồn khách du lịch bằng các nghề thủ công như nhuộm chàm, thêu thổ cẩm, khảm bạc, rèn đúc… Bà con dân tộc thường trồng chàm vào tháng 2 – 3 âm lịch, đến tháng 5 chặt cả cây cho vào vại lớn ngâm. Vài hôm sau thấy nước chàm ra hết thì vớt bã bỏ đi, cho một bát nước vôi vào vại để thử xem nước chàm đã tốt hay chưa rồi dùng cái chụp đậy lại. Nếu bọt chàm nổi lên rồi vỡ thì nước chàm đã tốt. Lúc đó, đậy kín vại để hai ba hôm cho bột chàm lắng xuống dưới, rồi đổ nước trong đi, thu về keo chàm đặc dẻo như bùn non.

Khi nhuộm, người ta hòa keo chàm với nước ngâm cùng riềng, thục, lá huyết dụ, nhân trần, lá sả và nước tro bếp, rồi cho vải vào nhuộm trong vòng 15 – 20 phút, sau đó đem phơi. Lặp lại quy trình này 5 – 6 lần. Quá trình nhuộm vải mộc thành vải chàm kéo dài hàng tháng trời.

Thêu hoa văn là nghề truyền thống của người Dao đỏ, người Mông. Các bé gái 12 – 13 đã biết thêu thùa. Lớn lên, họ tự may thêu áo cưới cho mình. Do mùa đông lạnh kéo dài nên họ dùng nhiều gam màu nóng (đỏ, vàng…) trên trang phục dân tộc cũng như đồ dệt lưu niệm với các họa tiết phổ biến như cỏ cây, chim muông…

Người Dao đỏ ở làng Tả Chải có nghề khảm bạc khá nổi tiếng. Cư dân Mông, Tày, Thái thường mua đồ trang sức khảm bạc của người Dao đỏ. Sản xuất đồ trang sức bằng bạc trắng gồm các công đoạn: nấu chảy bạc, đổ khuôn tạo hình, đập rèn, chạm khắc hoa văn, chỉnh sửa, đánh bóng. Những cô gái Dao đỏ có nhiều đồ trang sức bằng bạc tinh xảo được cộng đồng đánh giá cao.

Người Dao đỏ, người Mông trong làng còn có nghề rèn đúc (dao, cuốc, xẻng…) và lưu giữ được nhiều bài thuốc nam nổi tiếng. Người Dao đỏ ở Tả Phìn đã xây dựng được thương hiệu thuốc tắm hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Hàng chục loại thảo dược được cho vào nước đun sôi liên tục 3- 4 tiếng đồng hồ, tạo ra thứ nước màu nâu đỏ thơm ngào ngạt. Nước được đổ vào thùng gỗ tròn hoặc bồn tắm, pha thêm nước lạnh cho vừa. Người khỏe có thể tắm chừng 30 phút, người yếu nên tắm 15 phút thôi để tránh say lá thuốc. Giá một lượt tắm khoảng 140.000 đồng.

Đến với khu du lịch, du khách sẽ được thưởng thức mùi hương của hoa hồng nở vào mỗi sáng. Dọc các lối đi lát đá uốn lượn, hoa hồng nở rộ khiến cả quãng đường trở nên rực rỡ đầy thú vị. Những cây hồng cao, cành lá mập mạp, thẳng tắp dài đến trên một mét với những bông hồng lớn, có những bông thì vừa hé nở, có những bông thì đã vào độ mãn khai…

Một sớm ban mai thức dậy, du khách chợt thấy mình như đang lạc vào vườn cổ tích, ngập tràn hoa hồng long lanh sương. Hương hoa tràn vào phòng, tỏa lan ấm áp, trong khi bên ngoài trời sương mù bảng lảng, mông lung. Dưới kia, bản Mường Hoa trông như tấm vải thổ cẩm xinh đẹp với những ngôi nhà sàn ấm cúng.

http://www.moitruon gdulich.vn

“CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN

LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ” HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN

“Chương trình du lịch về cội nguồn” được 3 tỉnh: Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ hợp tác từ 5 năm nay, với sự quan tâm sát thực của Tổng cục Du lịch, Bộ văn hóa – Thể thao và Du lịch. Sau mỗi năm, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành của 3 tỉnh chặt chẽ, toàn diện hơn; nhận thức về gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phục vụ phát triển du lịch được nâng lên. Năm 2009, có trên 1 triệu 300 ngìn lượt du khách đến thăm quan, du lịch tăng 6% so với năm 2008. Tổng doanh thu từ du lịch đạt 1.128 tỷ đồng, tăng 8,3%.

Đánh giá kết quả hợp tác phát triển du lịch mà “Về cội nguồn” là chương trình trọng tâm, đồng chí Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch) khẳng định “Chương trình du lịch về cội nguồn” của 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ trong 5 năm qua là một phương thức liên kết phát triển du lịch mang tính sáng tạo, đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Chương trình này tạo ra chiến dịch truyền thông hữu hiệu, quảng bá được hình ảnh, sản phẩm tiêu biểu của mỗi vùng, miền, giúp du khách nắm bắt thông tin du lịch của mỗi địa phương, từ đó lựa chọn các điểm đến phù hợp. Năm 2010 sẽ có nhiều sự kiện văn hóa – du lịch quan trọng như: Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, là năm du lịch quốc gia Việt Nam với nhiều hoạt động được tổ chức trong năm. Vì vậy, khi tổ chức các hoạt động du lịch “Về cội nguồn” cần nghiên cứu để tránh trùng lặp giữa các sự kiện lớn này, không tổ chức dàn trải, phân tán. Quan tâm đến bảo vệ môi trường, tài nguyên sinh thái, giá cả, chất lượng dịch vụ; thu hút sự tham gia của cộng đồng. Tổng cục Du lịch vẫn tiếp tục quan tâm và hỗ trợ cho 3 tỉnh, như cử các đoàn đi khảo sát về du lịch; phối hợp với các địa phương tổ chức hội thảo; hỗ trợ quảng bá, xúc tiến du lịch và đào tạo nguồn nhân lực cho các địa phương.

Cùng với nguồn lực của Tổng cục Du lịch, tỉnh Lào Cai tiếp tục phát triển du lịch nói chung và đặc biệt là chương trình “Về cội nguồn”. Khai thác sản phẩm du lịch mới, tỉnh Lào Cai đã công nhận thêm 5 tuyến du lịch cộng đồng, 9 điểm du lịch địa phương và cho phép khai thác thử nghiệm 4 tuyến du lịch. Đặc biệt, nhân Tuần Văn hóa – Du lịch Bảo Yên năm 2009, Lào Cai đã mời hơn 100 người đại diện doanh nghiệp lữ hành, các cơ quan báo chí trong và ngoài tỉnh tham gia chuỗi trương trình sự kiện Lào Cai, Hà Giang nhằm kết nối chương trình du lịch Lào Cai – Hà Giang; đồng thời quảng bá cho du lịch 2 tỉnh. Chương trình đã mở ra cơ hội tốt để các doanh nhân và chính quyền địa phương gặp gỡ, trao đổi việc kết nối các tuyến, điểm du lịch và đưa các chương trình sự kiện, tạo ra sản phẩm du lịch mới. Qua thực tế du lịch Lào Cai cho thấy, công tác tổ chức các sự kiện văn hóa – du lịch nên hướng vào khách du lịch và các doanh nghiệp chuyên về du lịch để họ mời chào tour và xây dựng các sản phẩm du lịch mới thu hút khách. Việc xây dựng kế hoạch và tuyên truyền quảng bá nên tiến hành sớm và hiệu quả, cần tránh trường hợp các sự kiện diễn ra trên địa bàn mà người dân địa phương không biết thông tin. “Chương trình du lịch về cội nguồn” năm 2010 cần xây dựng kế hoạch theo hướng đổi mới, gắn với vai trò của các doanh nghiệp du lịch trong mở rộng sản phẩm, quảng bá và tham gia tổ chức các sự kiện. Với các sự kiện có mục đích xây dựng sản phẩm du lịch, nên giao cho các doanh nghiệp thực hiện để tăng cường hiệu quả thu hút du khách.

Qua 5 năm hợp tác “Chương trình du lịch về cội nguồn”, cả 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ đều đạt sự tăng trưởng. Kinh tế du lịch mang lại sự hiệu quả thiết thực cho các địa phương, doanh nghiệp và người dân. Năm 2010, với vai trò là Trưởng nhóm, Lào Cai tự tin vào một năm sôi động, với nhịp điệu mạnh mẽ hơn, xứng đáng với tiềm năng của vùng văn hóa Tây Bắc.

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 233. – Ngày 12/12. – Tr. 1+3

HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ DU LỊCH

TỪ CỬA NGÕ BẢO YÊN ĐẾN “VIÊN NGỌC” SAPA

Lào Cai – “Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” tự hào với vị thế cửa ngõ phía Bắc, là điểm đến của nhiều khách du lịch. Lâu nay, du khách vẫn quen tuyến du lịch từ Hà Nội lên Lào Cai, vào Sa Pa, nhưng có một tuyến du lịch mới từ Bảo Yên vòng sang Hà Giang, về Bắc Hà, lên Si Ma Cai, Mường Khương, ngược Bát Xát tới Sa Pa rất đẹp đang đón chào.

Vốn nổi tiếng với địa danh đền Bảo Hà – điểm du lịch tâm linh, mảnh đất Bảo Yên – cửa ngõ của Lào Cai còn nhiều điểm, tuyến du lịch hấp dẫn. Từ Hà Nội đến Bảo Yên bằng đường sắt Hà Nội – Lào Cai, đường bộ theo quốc lộ 70 đã hoàn thành nâng cấp (sau này này sẽ có thêm đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai), du khách tới vùng cửa ngõ của tỉnh Lào Cai. Bên cạnh đền Bảo Hà luôn thu hút khách thập phương, huyện Bảo Yên còn có những điểm du lịch: đền Phúc Khánh, di tích chiến thắng Phố Ràng, thành cổ Nghị Lang, những bản làng của đồng bào dân tộc mang đậm văn hóa truyền thống. Nổi bật là vùng đồng bào Tày Nghĩa Đô. Từ thị trấn Phố Ràng (Bảo Yên), du khách theo quốc lộ 279 gần 30 km là tới vùng đồng bào Tày Nghĩa Đô. Những mái nhà sàn ẩn hiện dưới tán rừng cọ, bên cánh đồng lúa bằng phẳng chạy hút chân núi. Tới đây, du khách được đắm mình trong sắc màu văn hóa riêng với những làn điệu dân ca, dân vũ êm đềm, sâu lắng; được thưởng thức thú vui ẩm thực từ món vịt lam, cá suối, cơm lam, nem măng đắng, ếch đá… hiếm nơi có được. Người Tày Nghĩa Đô luôn rộng lòng hiếu khách, để lại ấn tượng cho ai một lần đến.

Tiếp tục hành trình trên tuyến quốc lộ 279 đưa du khách sang huyện Quang Bình, Bắc Quang, rồi Xín Mần của tỉnh Hà Giang. Những bản làng thấp thoáng lưng đèo, men theo cung đường uốn lượn. Mọi người được xem những chàng trai, cô gái các dân tộc thể hiện tài giã bánh dày, đan xoỏng, dệt thổ cẩm, gói bánh. Du khách chắc chắn thấy hấp dẫn với văn hóa đậm chất sắc tộc người vùng cao; lễ cưới người Dao, nghi lễ nhảy lửa của người Pà Thẻn; lễ hội cúng thần đá và sinh hoạt văn hóa dân gian của người Nùng Xín Mần…

Lào Cai tiếp tục đón du khách tại Tả Củ Tỷ, Bản Già, Lùng Phình thuộc địa phận huyện Bắc Hà theo quốc lộ 4D. Vùng “cao nguyên trắng” có khí hậu trong lành, vẻ đẹp núi rừng nguyên sơ, với tình người nồng ấm. Mùa xuân hoa mận trắng rừng, mùa hại dịu mát, nhưng sôi động với những lễ hội; đền Bắc Hà, thể thao đua ngựa, lễ hội sông Chảy… Du khách được thưởng thức vị mận Tam hoa, rượu ngô, thắng cố ngựa; được thăm chợ văn hóa Bắc Hà, làng nghề – làng du lịch Bản Phố, nơi sản xuất rượu nổi tiếng; đắm mình trong nhịp xòe Tà Chải. Hay kia, dinh thự Hoàng A Tưởng, đền Trung Đô, thắng cảnh Hang Tiên, núi Cô Tiên, chợ Lùng Phình mỗi tuần họp một phiên vào ngày chủ nhật. Những sắc màu văn hóa đa dạng cứ miệt mài theo mỗi bước chân du khách.

Từ Bắc Hà vượt hơn 20 km, du khách đến phiên chợ Cán Cấu (họp thứ 7 hàng tuần), chợ Si Ma Cai (họp chủ nhật), chợ Sín Chéng (họp thứ 4)… Cuộc sống nhân dân phần nào được phản ánh rõ nét qua những phiên chợ. Sắc màu thổ cẩm, hàng nông sản tự cung của đồng bào các dân tộc và ngày nay thêm sự hiện diện của đời sống hiện đại làm cho mỗi phiên chợ phong phú, nhưng vẫn giữ nếp truyền thống vùng cao. Huyện Si Ma Cai có vẻ quyến rũ của cô gái đẹp như bông hoa rừng cứ lặng lẽ dâng hiến cho mùa. Sắc màu văn hóa các dân tộc; Mông, Nùng, Phù Lá… luôn muốn níu giữ chân du khách.

Rời Si Ma Cai vượt qua cầu sông Chảy, du khách sang Mường Khương (vùng đất thép) có địa danh Tả Gia Khâu được ví như “Trường Sa trên cạn”. Những phiên chợ: Pha Long (họp vào thứ 7), chợ Mường Khương (họp chủ nhật), rồi chợ Cao Sơn, Lùng Vai, Bản Lầu… thấm đậm sắc vùng cao. Mường Khương còn những hang động, thác nước, đỉnh núi mang vẻ đẹp quyến rũ: Hàm Rồng, Văng Đeng, Tà Lâm, Páo Tủng, Cô Tiên… Hơn thế, đến Mường Khương, du khách được đắm mình trong truyền thống văn hóa các dân tộc ít người, nhất là những tộc người tập trung sinh sống ở đây: Pa Dí, Nùng, Tu Dí – Bố Y, Thu Lao… Những lễ hội truyền thống, những tập tục hay của đồng bào địa phương: Tết 23/6 của người Pa Dí; cúng rừng của người Nùng; Gầu Tào của người Mông… Mường Khương từ lâu nổi tiếng với những đặc sản có thương hiệu: gạo Séng Cù, tương ớt, mận hậu Cao Sơn, chè…

Một điều đặc biệt là đến vùng cao Lào Cai, du khách được thưởng thức ẩm thực phong thú, trong đó phái kể đến món thắng cố, xôi màu, lợn cắp nách, rượu địa phương, phở chua, lạp xườn… Và nghĩa tình, trong men rượu, du khách tiếp tục cuộc hành trình.

Tới thành phố Lào Cai, một thành phố hiện đại kiêu hãnh soi bóng dòng Nậm Thi trong xanh và sông Hồng đỏ nặng phù sa. Đền Thượng bên bờ Nậm Thi uy nghi, linh thiêng, là nơi thờ Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo. Đền Mẫu và cửa khẩu Quốc tế Lào Cai là điểm đến mà du khách không thể bỏ qua. Đây còn là ngã ba sông Nậm Thi và sông Hồng giao duyên, viết lên bản tình ca vùng biên giới, luôn sôi động khách du lịch qua lại hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Góp thêm điểm du lịch, thành phố tự hào có nhiều di tích lịch sử – văn hóa truyền thống và hiện đại: đền Cấm, pháo đài Lào Cai, khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường, các cụm công nghiệp, Khu thương mại – công nghiệp Kim Thành dần sôi động, mang lại dáng vóc cho thành phố trẻ.

Vượt hơn chục km, du khách tới huyện Bát Xát, nơi dòng sông Hồng chở phù sa vào đất Việt. Du khách hòa mình vào thiên nhiên vùng cao Y Tý, Dền Sáng, vào những lễ hội: Khu Già Già, Gặt Tu Tu của người Hà Nhì, cúng rừng của người Mông, Róong Pọoc của người Giáy… Đặc biệt, hang động Mường Vi lung linh huyền thoại với những hang động: Ná Rin, Cám Rang, Cám Rúm, Cám Tẳm cảnh đẹp sơn thủy hữu tình; chợ Mường Hum phong phú vật sản vùng cao; suối tình Dền Sáng thu hút đủ lớp người trẻ, già. Bây giờ, trên đất Bát Xát còn nuôi được cá Hồi nước lạnh, mở ra hướng làm giàu và thu hút khách du lịch.

Theo tỉnh lộ 155, từ Bản Xèo, du khách xuyên sang đèo Ô Quý Hồ (Sa Pa) để có cơ hội ngắm phong cảnh núi Ngũ Chỉ Sơn cao 3.090 m (cao thứ 2 sau đỉnh Phan Xi Păng). Đứng lẫn trong mây bay, sương bảng lảng, du khách thỏa tầm ngắm đỉnh Phan Xi Păng – nóc nhà Đông Dương ẩn hiện, vườn Quốc gia Hoàng Liên phong phú chủng loại động vật, thực vật; thị trấn Sa Pa thỉnh thoảng lẫn vào sương giăng giăng. Sa Pa “nơi gặp gỡ đất trời”, là “chuỗi ngọc trời cho” luôn hấp dẫn du khách. Muốn ngắm cảnh đẹp hãy đến khu du lịch Hàm Rồng, Thác Bạc, bãi đá cổ… Muốn khám phá bản làng và nét đẹp văn hóa các dân tộc hãy đến làng du lịch sinh thái Tả Van, tả Phìn, Nậm Cang… Du khách ưa thể thao mạo hiểm có thể leo núi chinh phụ đỉnh Phan Xi Păng xuyên qua những cánh rừng già. Từ lâu, Sa Pa là vùng du lịch nổi tiếng, nơi có chợ tình tối thứ 7 hàng tuần, có lễ hội trên mây rộn ràng và ruộng bậc thang lọt vào “top 7” kỳ vỹ nhất thế giới…

Tuyến du lịch Lào Cai – Hà Giang hội tụ các yếu tố phát triển bền vững: du lịch văn hóa, sinh thái, lễ hội, nghỉ dưỡng, mạo hiểm… hy vọng sẽ thu hút du khách gần xa tới thưởng thức, khám phá.

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 233. – Ngày 12/12. – Tr. 8: 3

HANG CÂY THÔNG – NA MĂNG

Trịnh Quang Hãnh

Trên miền núi phía Tây Bắc sát thôn Na Măng (xã Pha Long, huyện Mường Khương) có hang động Cây Thông – Na Măng nhiều tầng và còn có mái hiên như một tòa nhà hiện đại đến nao lòng. Hang có hai cửa chính, cửa dễ đến ở thôn Na Măng, cửa thứ 2 ở tít tận thôn Máo Chóa Sủ (xã Tả Ngài Chồ).

Hang động Cây Thông – Na Măng cách trung tâm Pha Long 4km và cách huyện lỵ Mường Khương 25 km về phía Tây. Đến với hang động lớn liên xã này theo quốc lộ 4D Mường Khương – Pha Long và đường cấp phối Pha Long – Na Măng. Từ chỗ gửi xe thôn Tỉn Thàng đi bộ gần 1 km là đến cửa hang được các nhũ đá mọc từ dưới lên và nhũ đá từ trên trần hang buông xuống tạo thành thềm cửa mái hiên nhà thật độc đáo. Phía ngoài hiên là một bụi tre dây lớn cùng dây leo chằng chịt, trùm lên mái hiên còn có cây thuốc ngũ gia bì và nhiều cây thuốc quý khác. Chính giữa cửa thềm có nhũ đá như một đầu con voi lớn buông vòi phục hướng vào các pho tượng nhũ đá ngồi trên thềm ô cửa. Những pho tượng này được đồng bào choàng cho những tấm vải đỏ. Trong vùng có người đau yếu, hay có ước nguyện phúc, lộc… thường lên dâng hương cầu xin một dải vải đỏ về buộc vào cổ tay.

Từ chỗ các pho tượng ở thềm hiên nhìn ra cửa hang như một bông hoa 5 cánh xòe ra, mà mỗi cánh là một lối vào thềm – hiên hang. Từ cửa thềm hang có hai cửa vào. Một cửa lớn ở phía phải và một cửa nhỏ phía trái. Qua khỏi cửa, gặp ngay một phòng khách cao tới 22m, rộng 33m, trong phòng là cả thế giới đồ vật, cảnh vật thể hiện sinh động cuộc sống của cộng đồng người. Ở phía tay trái có dòng thác vàng bạc bằng nhũ đá chảy xuống gần bên cầu thang lên tầng hai. Nhưng bắt mắt và để lại ấn tượng sâu sắc cho mọi người là một phòng lộng lẫy như cung đình – có người nói nơi đây là phòng hạnh phúc, là cung vua, các nhũ đá vàng từ trên cao chảy xuống làm thành một cửa hình chữ nhật lồng mỏng mảnh như rèm buông được nghệ nhân thêu hoa dệt gấm. Phía trước căn phòng “hạnh phúc” là vườn cảnh – thượng uyển có hành lang bên phải nhiều cây cảnh và cây thông đuôi ngựa vươn xanh, phía bên trái trên cao có có một quả phật thủ (tay tượng) to lớn vươn xuống như đang chăm tỉa cho những hàng cây. Trong đó có một cây thông hình tháp cao trên 3 m, đường kính vòm cây cao tới 2 m lừng lững, lung linh như cây thông Nô-en đêm Giáng sinh. Đây là cảnh trí tuyệt vời nhất các tầng hang, nên đồng bào đặt tên hang là Cây Thông – Na Măng. Sau khu cây cảnh và cung điện là “quảng trường”, nền hang khá bằng phẳng, ít nhũ đá. Đây là nơi luyện tập võ nghệ và sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Tiếp đến là thế giới bồng lai tiên cảnh, phía trên trời cao là dải ngân hà lấp lánh lung linh.

Hai bên thành hang là thế giới tiên, rồng bằng nhũ đá mọc từ dưới lên và từ trên xuống. Nước từ trên cao nhỏ tí tách tạo thành những dòng nước nhỏ chảy len lỏi trong các khe đá róc rách. Mùa hè vào đây mát nhất và mùa đông cũng là ấm cúng nhất. Ai đã vào dây đều không muốn ra vì trước mặt có một ao trong vắt phẳng lặng như gương. Ao nhỏ này có nhũ đẹp buông xuống bờ và có nhiều chỗ đứng, ngồi cho du khách, đặc biệt là có ba chậu cảnh nổi lên. Một chậu có hòn non bộ, ngồi trên như một vị tiên tọa lạc; một chậu như hai lá sen chụm vào nhau và một trụ là chân cột trụ trời lộng lẫy cho ta đu bám để sang phía bên kia là những làng bản, ruộng bậc thang và dải ngân hà cùng muôn vàn cảnh trí bằng nhũ đá được thiên nhiên tạo từ hàng trăm triệu năm. Nếu gõ vào các nhũ đá, mỗi nhũ đá phát ra âm thanh êm ái, du dương.

Hang Cây Thông – Na Măng nhiều tầng lớp. Người nhiệt tình khám phá và có các phương tiện phụ trợ cần thiết cũng phải đi ba – bốn ngày cũng chưa hết. Trong hang động còn có nhiều chú dế chân dài và đàn dơi hàng nghìn con sinh sống là nguồn phân bón cho đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất. Đây cũng là điểm đến du ngoạn nông nhàn của đồng bào. Hang còn có nhiều huyền thoại ly kỳ gắn với cuộc sống từ ngàn đời nay của đồng bào. hang Cây Thông – Na Măng còn có một ưu điểm là bốn mùa đều khô ráo, sạch sẽ, đường vào hang rất đẹp đang chào mời du khách và các nhà nghiên cứu, các nhà đầu tư với xứ Mường.

Lào Cai cuối tuần. – 2009. – Số 211. – Ngày 11/7. – Tr. 8; 6

DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở LÀO CAI:

NGÀY CÀNG HẤP DẪN DU KHÁCH

Đến Sa Pa, khách du lịch có thể lựa chọn nhiều tuyến du cộng đồng: đi tham quan các tuyến Sa Pa – Ý Linh Hồ – Lao Chải -Tả Van; Lao Chải – Tả Van – Bản Hồ – Thanh Phú – Nậm Sài – Sa Pa, hay Sa Pa – Tả Phìn – Móng Sến – Tắc Cô – Sa Pa… Mỗi tuyến du lịch cộng đồng đều mang những đặc trưng, sắc thái riêng, du khách được ngắm cảnh thiên nhiên núi non hùng vĩ. Khi dừng chân tại mỗi bản làng, người dân có thể cung cấp những dịch vụ khác nhau như: phòng trọ, nấu ăn, dẫn đường, hướng dẫn công việc nhà nông, hoặc bán những sản phẩm lưu niệm: thổ cẩm, đồ mây tre đan, các sản phẩm mỹ nghệ, hoặc biểu diễn nghệ thuật dân gian. Điều hấp dẫn du khách chính là vẻ đẹp nồng hậu, chất phác, giữ “chữ tín” của người dân ở các bản làng nơi đây.

ại các bản làng ở Bản Hồ, Thanh Phú, Sín Chải, Tả Van… nhiều gia đình đã chuyển sang làm dịch vụ kinh doanh lưu trú tại gia. Xã Bản Hồ là một điển hình, trước kia cuộc sống của đồng bào chủ yếu dựa vào nghề nông và chăn nuôi, từ khi du lịch cộng đồng phát triển, xã đã có 30 hộ đồng bào Tày, Mông đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch, doanh thu mỗi năm đạt trên 400 triệu đồng. Hộ ông Đào A Son, xã Bản Hồ cho biết: “Khách du lịch nước ngoài rất thích đến thăm bản mình. Đến đây họ thường nghỉ lại một đêm ,hôm sau đi tiếp. Nhà có đồ ăn thì mời khách ăn uống. Khách thích tập làm nghề nông thì mình hướng dẫn. Mỗi năm gia đình cũng có thu nhập vài chục triệu đồng từ kinh doanh dịch vụ du lịch”.

http://www.mangdulich.com

DU LỊCH BẢN DỀN

Vị trí: Bản Dền thuộc xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm: Đến đây, du khách sẽ được khám phá thiên nhiên kỳ vĩ, tìm hiểu những nét văn hoá độc đáo của người dân bản địa và được sống trong không khí ấm cúng, thân mật, hoà quyện giữa con người và thiên nhiên.

Khi đến Bản Hồ, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước một màu xanh mướt ngút tầm mắt của lúa nương trên những ô ruộng bậc thang, bao quanh là những quả đồi và hòa lẫn trong đó là những nếp nhà của người dân tộc nằm rải rác dọc hai bờ suối. Bản Hồ có trung tâm là thôn Bản Dền, nơi gặp gỡ của hai dòng suối Mường Hoa và La Ve.

Theo truyền thuyết, có đôi trai gái quen nhau trong một đêm chợ tình ở Sa Pa. Chàng trai là người Tày ở Bản Dền vốn mồ côi từ nhỏ, còn cô gái là người Giáy ở Bản Tả Van. Họ yêu nhau tha thiết nhưng chàng trai thì nghèo quá không đủ sính lễ đến hỏi cưới cô gái. Họ thường hẹn nhau bên bờ suối Mường Hoa để tình tự. Một hôm, trời mưa tầm tã, nhưng nhớ bạn tình chàng trai vẫn ngược dòng suối lên gặp người yêu ở Nậm Nà (cuối Tả Van ngày nay), họ bên nhau tình tự mãi mà không hay tai hoạ đang ập xuống. Thần nước ào đến bất ngờ kéo văng cô gái ra khỏi tay người yêu nhấn vào dòng nước đỏ gầm rú. Chàng trai hốt hoảng nhảy theo nhưng mất dấu người yêu. Đau lòng và hận thần nước khôn xiết, ngày ngày chàng lên núi Hoàng Liên Sơn khuân đá về lấp dòng suối. Ngọn núi đá chắn giữa dòng suối Mường Hoa ngày càng cao theo nỗi nhớ nhung và buồn bã của chàng trai. Suối Mường Hoa bị tách làm đôi quấn quanh Bản Dền, rả rích đêm ngày như tiếng đàn gọi bạn của chàng trai từ khi đó.

Khác với dòng Mường Hoa ngày ngày phải mang nước đến cho hàng chục bản làng – nơi mà nó chảy qua, dòng La Ve chảy về Bản Dền từ trong tận núi cao rừng thẳm. Có lẽ vì thế mà nó cũng đẹp hơn và bí ẩn hơn và trong hơn.

Bản Hồ không dành cho những người không có khát vọng khám phá. Những cung đường núi đồi quanh co, uốn lượn và khó đi thực sự là thử thách đối với du khách. Nhưng đi rồi, du khách ắt hẳn sẽ bị lôi cuốn bởi sự đa dạng của thiên nhiên nơi đây. Đến đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên hữu tình, không gian thoáng đãng nên thơ, kiến trúc độc đáo từ những ngôi nhà sàn gỗ gắn bó lâu đời với cuộc sống của người dân tộc mà còn được sống trong môi trường du lịch thân thiện, đầm ấm và cùng tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng. Tiêu biểu là thôn Bản Dền của xã Bản Hồ. Tiềm năng văn hoá của bà con thôn Bản Dền thể hiện qua những câu hát, điệu múa cổ và nhiều nghi lễ truyền thống. Đối với người Tày, lễ hội xuống đồng, hát giao duyên, các điệu múa sạp, múa xoè là những nét văn hoá đặc trưng, thực sự cuốn hút du khách. Các nghề thủ công truyền thống đã được khôi phục và có xu hướng mở rộng. Nổi bật nhất là nghề trồng bông, trồng dâu nuôi tằm và dệt thổ cẩm. Thổ cẩm truyền thống của Bản Dền được người phụ nữ Tày dệt nên thành những bộ trang phục đẹp mắt cùng nhiều sản phẩm trang trí trong gia đình và dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Nghề dệt thổ cẩm không chỉ tạo nên những món hàng lưu niệm độc đáo mà còn là nơi dệt vải, sản xuất chăn, ga, gối để du khách thập phương tham quan, chiêm ngưỡng sự khéo léo của những người phụ nữ vùng cao.

Khoảng gần mười năm trở lại đây, hình thức du lịch tại gia (homestay) đã là một trong những thứ làm nên sự hấp dẫn của Bản Dền. 29 ngôi nhà sàn to đẹp nhất trong thôn Bản Dền đã được lựa chọn để triển khai dịch vụ này và điều thú vị nhất là dòng người đổ về Bản Dền để được một lần ngủ đêm tại bản này ngày càng đông, trong đó có cả những bạn trẻ Việt Nam.

Bản Dền luôn náo nức trong hình thức du lịch bản làng. Hương vị của cuộc sống hiện đại đang dần dần lan toả khắp nơi đây nhưng đêm về, bản làng lại thuần khiết mùi núi rừng yên ả thẳm sâu và huyền diệu.

http://www.vietnamtourism.com

ĐỘNG HÀM RỒNG

Vị trí: Động Hàm Rồng thuộc địa phận huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, cách thị trấn Mường Khương khoảng gần 2km.

Đặc điểm: Đến đây, du khách sẽ có dịp được chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền bí giữa một vùng núi rừng bao la, rộng lớn.

Từ Tp. Lào Cai, theo quốc lộ 4D ngược lên phía đông bắc khoảng 50km, du khách sẽ đến địa phận huyện Mường Khương.

Quần thể hang động Hàm Rồng bao gồm 4 hang, đó là: hang Lũng Pâu, hang Nắm Oọc, hang Mười Ngựa và khu hang động Cao Sơn; trong đó có 2 hang chính nối liền nhau với tổng chiều dài khoảng 750m.

Hang Lũng Pâu thuộc xã Tung Chung Phố và nằm sâu trong lòng dãy núi đá vôi sừng sững. Chính nơi này vào năm 1959 đã phát hiện ra trống đồng Pha Long (thuộc Hêgơ I) nổi tiếng, có niên đại cách đây gần 4.000 năm.

Hang Nắm Oọc thuộc xã Nấm Lư có nhiều nhũ đá, tượng bụt kỳ ảo và nơi đây thường tổ chức các lễ hội dân gian đặc sắc của người Nùng và một số thôn, bản khác trong vùng

Khu hang động Cao Sơn nằm ẩn mình trong lòng dãy núi đá vôi chập chùng cao chót vót. Bên trong hang có rất nhiều các hình thù đẹp mắt bằng đá, trông giống như những ô ruộng bậc thang, các nông cụ sản xuất, những chiếc bàn, ghế… Nơi đây không chỉ là chứng tích “phơi thây xác giặc” của quân dân địa phương đã từng chống bọn giặc phong kiến phương Bắc với huyền thoại “khe diệt Hán” đã in đậm trong tâm thức nhân dân mà còn là căn cứ hoạt động cách mạng chống Pháp, phỉ ở Mường Khương và là khu vực phòng thủ an ninh – quốc phòng bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc thời kỳ đất nước đổi mới hiện nay.

Đến với quần thể hang động Hàm Rồng, du khách sẽ có dịp được chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền bí giữa một vùng núi rừng bao la, rộng lớn.

http://www.vietnamtourism.com

ĐỘNG CỐC SAN

Vị trí: Ðộng Cốc San thuộc xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Ðặc điểm: Cốc San là một hệ thống các thác nước và các hang động to nhỏ khác nhau, vì vậy người ta có thể gọi đây là động Cốc San hoặc thác Cốc San. Đường vào Cốc San rất ngoằn ngoèo, tối và bị lấp bởi những tảng đá, vẻ đẹp của Cốc San vẫn hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, hoang sơ.

Nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 7km, Cốc San đã từ lâu được biết đến như một điểm du lịch lý tưởng của người dân thị xã. Từ quốc lộ 4D, một con đường đất nhỏ có chiều dài khoảng hơn 1km dẫn vào Cốc San. Hai bên đường là những cánh đồng nhỏ và làng xóm của dân địa phương. Khi còn cách Cốc San khoảng 300 – 400m, bạn đã có thể nghe được tiếng suối chảy rầm rì.

Cốc San có những bãi đá gồm nhiều phiến đá nhỏ to khác nhau, nhấp nhô trùng điệp. Ðặc biệt có nhiều phiến mặt rất bằng phẳng và rộng lớn có thể ngồi được vài chục người. Khí hậu ở Cốc San rất trong lành và mát mẻ khiến ta có cảm giác thật dễ chịu. Vào những ngày hè hoặc những ngày nghỉ lễ, rất nhiều người đến với Cốc San. Ða số họ là thanh niên, học sinh… Khi đến Cốc San ngoài việc thăm thú các phong cảnh, chụp ảnh… họ còn được tắm mình trong làn nước trong xanh mát lạnh.

http://www.vietnamtourism.com

DINH HOÀNG A TƯỞNG (LÂU ĐÀI HOÀNG YẾN CHAO)

Vị trí: Dinh Hoàng A Tưởng nằm ở trung tâm huyện lỵ Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Ðặc điểm: Kiến trúc Dinh Hoàng A Tưởng theo phong cách Á – Âu kết hợp, tạo sự hài hoà, bố cục hình chữ nhật liên hoàn khép kín. Dinh Hoàng A Tưởng được xây dựng từ năm 1914 và hoàn thành năm 1921, chủ nhân là Hoàng Yến Chao dân tộc Tày, bố đẻ của Hoàng A Tưởng. Trải qua hơn 80 năm tồn tại cùng thời gian, phủ bao lớp rêu phong cổ kính vẫn đứng uy nghi nổi trội giữa một nơi dân cư đông đúc, phố xá tấp nập.

Địa điểm được chọn theo thuyết phong thuỷ trên một quả đồi rộng hướng đông nam, đằng sau và hai bên phải trái có núi, phía trước có suối và núi “mẹ bồng con”. Địa hình tổng thể có thế “sơn thuỷ hữu tình” đẹp, hợp với cảnh quan khí hậu Châu Á nhiệt đới.

Ở giữa sâu vào trong là nhà chính. Hai bên tả, hữu là nhà phụ, trước là bức bình phong, giữa là sân trời. Vào dinh phải bước lên mấy bậc cầu thang từ hai bên lại, rồi tới phòng chờ, sau đó mới bước vào khoảng sân rộng để hành lễ và múa xòe. Nhà chính hai tầng có diện tích 420m². Các cửa nhà hình vòm. Tuy các cửa cao thấp không đều, nhưng cân đối, hành lang có lan can. Trước các cửa đều đắp pháo nổi. Cả hai tầng nhà chính đều có ba gian. Bốn gian hai bên phải trái của cả hai tầng là nơi sinh hoạt gia đình. Gian giữa cả hai tầng dùng làm nơi hội họp. Mặt chính trang trí bằng nhiều hoạ tiết công phu. Hai bên phải và trái có đắp nổi hai câu đối với nội dung chúc gia đình dòng họ hiển vinh…

Hai bên tả hữu là hai dãy nhà ngang có bố cục và kiến trúc giống nhau. Mỗi dãy đều hai tầng nhưng thấp hơn nhà chính, mỗi tầng cũng có ba gian với tổng diện tích 300m² mỗi gian đều có chức năng sử dụng riêng. Tiếp giáp với hai dãy nhà còn có hai nhà phụ cũng gồm hai tầng nhưng kiến trúc đơn giản và dùng làm nhà kho, cho lính và phu ở, tổng diện tích mỗi nhà 160m².

Vật liệu xây dựng gạch ngói sản xuất tại chỗ bằng cách mời chuyên gia Trung Quốc; sắt, thép và xi măng được mua từ dưới xuôi chở bằng máy bay.

Xung quanh có tường xây bao gồm ba cồng (một chính, hai phụ) trổ nhiều lỗ châu mai và có lính gác với số lượng hai trung đội. Tổng diện tích toàn khu nhà lên tới 4.000m². Khu biệt thự này đang được gìn giữ, bảo quản và tôn tạo để khách tham quan có thể tìm hiểu về lịch sử xã hội vùng dân tộc miền núi một thời đã qua.

http://www.vietnamtourism.com/

Đặc điểm: Đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bẩy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bản làng. Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên.

Đến thăm di tích đền Bảo Hà rất thuận lợi vì có nhiều đường giao thông đi lại. Du khách có thể đi bằng đường bộ, đường thủy hay đường sắt. Nếu đi bằng đường sắt, từ Hà Nội, du khách sẽ lên tàu LC1 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 22:05 hoặc tàu LC3 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 06:10.

Hiện nay, đền đã và đang được đầu tư xây dựng bằng nguồn tiền công đức và ngân sách Nhà nước để địa chỉ du lịch tâm linh này ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách gần xa.

http://www.vietnamtourism.com/

Vị trí: Đá vợ đá chồng nằm trong khu di tích Bãi đá cổ Sa Pa, thuộc thung lũng Mường Hoa, xã Hầu Thào, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Phía đầu bãi đá khắc cổ cạnh con đường trục chính liên xã (cũ) có một tảng đá nằm dưới vùng sình lầy. Hòn đá có hình người nằm phủ phục, đầu quay xuống phía hạ huyện. Ở cuối bãi đá đó, cách chừng 2km, có tảng đá lớn cũng hình người nằm phủ phục, đầu quay lên, hai tảng đá có hình dáng giống nhau.

Đồng bào H’Mông ở quanh vùng Hầu Thào – Tả Van có kể lại: Từ lâu lắm rồi, ở mãi phương Bắc xa xôi đã xảy ra một cuộc chiến thảm khốc giữa hai bộ tộc. Kẻ chiến thắng là một tộc trưởng tàn ác, hắn còn có một tên phù thủy gian manh làm quân sư. Tên quân sư gian manh rắp tâm chiếm đoạt người con gái độc nhất của tộc trưởng.

Nàng tiểu thư xinh đẹp – con gái tộc trưởng lại đem lòng yêu chàng trai con tộc trưởng chiến bại trong cuộc chiến tranh vừa qua. Những ngày hai bộ tộc còn chung sống hòa bình thì tình yêu của đôi trai gái đẹp biết bao. Nghe lời xúc xiểm của tên quân sư, chiến tranh giữa hai bộ tộc đã xảy ra. Dù vậy, đôi trai gái vẫn quyết tâm bảo vệ hạnh phúc và họ đã cùng nhau trốn chạy về hướng nam mong rằng sẽ tìm được hạnh phúc ở nơi xa lạ.

Được tin, tộc trưởng huy động quân lính đuổi theo. Tên phù thủy quân sư uất ức nguyện rằng: “Nếu hai đứa trẻ đến suối Kim Hoa mà thoát vào đêm thứ mười thì hắn sẽ chọn thất bại. Nếu ngày mười một mà chưa qua suối Kim Hoa thì đôi trẻ sẽ hóa đá”.

Người già trong vùng nói rằng hai tảng đá hình như vẫn lần tìm đến nhau. Ở phía phải và trái của hai tảng đá vẫn tồn tại hai cánh rừng nhỏ, cả hai cánh rừng đều có những cây cổ thụ và có hai miếu thờ, một của đồng bào Giáy, một của đồng bào H’Mông thờ mối tình chung thủy của chàng trai, cô gái.

http://www.vietnamtourism.com/

ĐẦU NĂM DU LỊCH LÀO CAI

Bài và ảnh Thu Ngọc

Từ Quốc lộ 2 đến Quốc lộ 70, qua các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, bạn sẽ đặt chân lên mảnh đất Lào Cai. Địa danh bạn dừng chân trong chuyến du lịch đàu tiên là Bảo Yên – Cửa ngõ phía Nam của tỉnh, mảnh đất thơ mộng nằm giữa hai dòng sông. Bảo Yên tự hào về các chiến tích của cha anh trong truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, còn ghi lại trong các huyền thoại về thành cổ Nghị Lang, Đền thờ danh tướng Hoàng Bẩy có công dẹp giặc giữ nước, đồn Phố Ràng và hào ngăn giặc Nghĩa Đô.

Rời mảnh đất Bảo Yên giàu truyền thống, bạn sẽ có cơ hội thăm lại khu căn cứ cách mạng Gia Phú, Xuân Giao (huyện Bảo Thắng). Là dải thung lũng chạy dọc theo sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa, Bảo Thắng có nhiều di sản lịch sử, danh thắng văn hóa lâu đời và danh thắng cùng những lễ hội dân gian. Ngày nay, vùng đất cách mạng này đã trở thành khu công nghiệp lớn thu hút nhiều nhà đầu tư.

Nằm ở trung tâm của tỉnh, thành phố trẻ Lào Cai – nơi giao duyên giữa sông Hồng chảy vào đất Việt và sông Nậm Thi trong xanh, hiền hòa. Nằm ở vị trí cầu nối giữa vùng Tây Nam (Trung Quốc), có cửa khẩu quốc tế Lào Cai là điểm dừng chân trong cuộc hành trình của bạn. Cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai chừng 500m, Đền Thượng tọa lạc trên khu đồi thuộc dãy núi Mai Lĩnh, đứng tại nơi đây, phóng tầm mắt ra xa là thành phố Lào Cai và thị trấn Hà Khẩu (Trung Quốc) sầm uất. Đền Thượng được xây dựng để ghi nhớ công ơn của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Nằm trong quần thể đền, chùa ở thành phố Lào Cai, đền Mẫu thờ bà chúa Thượng Ngàn cùng các vị thánh mẫu, Đền Thượng là những chứng tích văn hóa truyền thống của người Việt ở sát nơi biên giới. Cách đó không xa, phía sau Ga quốc tế là đền Cấm, đền Quan với phong cảnh sơn thủy hữu tình, lưng dựa vào núi, trước mặt là những cây cổ thụ mang dấu tích của khu cấm xa xưa, kề bên hồ nước trong xanh, phẳng lặng…

Mùa xuân đến với Bắc Hà, bạn sẽ đắm chìm trong sắc trắng của hoa mận. Có lẽ chính vì thế mà nơi đây được gọi với cái tên trừu mến – cao nguyên trắng, vùng đất này từ lâu đã được rất nhiều sách biết đến với nền khí hậu á nhiệt đới trong lành, cảnh sắc nên thơ với những dãy núi kề bên những triền sông, dòng suối thơ mộng. Đặc biệt là những lễ hội, phiên chợ mang đậm bản sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao.

Đến Sa Pa – “thành phố trong sương”, vùng đất du lịch kỳ thú, luôn tạo cho du khách những điều kỳ diệu mõi lần khám phá. Lên Sa Pa, du khách được đắm mình trong phong cảnh thiên nhiên với núi non hùng vĩ, không khí trong lành, những cảnh đẹp tựa chốn bồng lai và vô số loài hoa đẹp. Nằm giữa trung tâm thị trấn là nhà thờ cổ, sân quần với những con đường uốn lượn, những công trình kiến trúc đẹp. Nơi đây, mỗi tối thứ 7, du khách được chứng kiến cảnh những đôi trai gái đáng yêu dập dìu tìm về chợ tình trong tiếng đàn môi réo rắt, điệu khèn trầm bổng thiết tha. Điểm nhấn của Sa Pa chính là khu du lịch Hàm Rồng, nhẹ bước bên hàng hoa hai bên đường du khách như lạc vào cõi mê với những loài hoa muôn màu khoe sắc rực rỡ, những làn mây nhẹ bay, những phiến đá nhiều hình thù như muốn núi kéo du khách vào chốn bồng lai tiên cảnh. Đứng trên Sân Mây, phóng tầm mắt ra xa bạn sẽ thấy toàn cảnh thị trấn Sa Pa sôi động, thung lũng Mường Hoa e ấp, dãy Hoàng Liên hùng vĩ nơi có đỉnh Phan Xi Păng quanh năm mây phủ. Ngắm khung cảnh tráng lệ bên tiếng khèn, tiếng hát giao duyên của các dân tộc ở Sa Pa. Ngược Ô Quý Hồ, cách trung tâm thị trấn khoảng 15 km sẽ tới Thác Bạc quanh năm tuôn trào dòng nước mát lạnh. Sa Pa không chỉ hấp dẫn du khách bởi cảnh đẹp mà còn làm bạn quyến luyến bởi nét văn hóa đặc sắc. Sa Pa – “Đà Lạt của phương Bắc” với vô vàn hóa trái quanh năm đua hương khoe sắc để lại cho du khách những ấn tượng khó quên.

Nếu có thời gian, mời bạn hãy đến thăm Bát Xát – “Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, địa danh được biết đến như một vùng “đồng thau” giàu có của tỉnh; thăm Si Ma Cai – “mảnh đất lưu dấu ngựa thần”, Mường Khương với những huyền thoại anh hùng về các cuộc đấu tranh tiễu phỉ trừ gian của cha ông, hay Văn Bàn – miền quê trù phú để lắng nghe nhịp điệu Võ Lao, lắng nghe những âm thanh từ rừng, những bản dân ca mang đậm sắc dân tộc…

Mùa xuân – mùa của lễ hội, của đôi lứa yêu nhau, bạn đến Lào Cai một lần để nhớ mãi.

Lào Cai. – 2008. – Số Xuân Mậu Tý 2008. – Tr. 9

ĐẮM SAY LÀO CAI

22 Tháng Hai 2008

Người Việt nào cũng ước ao có 1 lần trong đời được dâng nén tâm hương đầu tiên trong năm mới tại Đền Thượng (Lào Cai), nơi thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, trong hành trình tâm linh về với cội nguồn. Đó là nghi thức hợp đất trời và lòng người, khi hành hương đi lễ đầu năm cần bắt đầu từ điểm cao, xa nhất.

Cùng với đền Thượng, trên mảnh đất thiêng ải Bắc còn có đền Mẫu, đền ông Hoàng Bảy, đền Cấm và chùa Lê Lợi tạo nên một quần thể văn hóa tâm linh cho du khách thập phương đến dâng hương, cầu mong an lành và hưng thịnh. Rằm tháng Giêng này, Lễ hội Đền Thượng là một không gian văn hóa mới khởi đầu cho một năm đặc sắc của “Chương trình Du lịch về cội nguồn” ở Lào Cai. Lễ hội là dịp để đồng bào các dân tộc Lào Cai, du khách trong và ngoài nước cùng tụ hội. Ngoài phần lễ với những nghi thức trang trọng phần hội là những màn trình diễn văn nghệ, vũ hội dân gian, các trò chơi dân gian như ném còn, đẩy gậy, cờ người, vật, kéo co… Đặc biệt, mỗi huyện, thị đều mang đến lễ hội những trích đoạn văn nghệ dân gian tiêu biểu và trưng bày sản vật mang đậm nét vùng cao.

Đến Lào Cai không thể không đến Sa Pa – vùng đất mộng tưởng. Là mây, là gió, là sương mù, là đèo cao, dốc đứng mà chỉ cần ngắm, thở thôi Sa Pa, cũng đáng để vượt cả trăm, ngàn cây số đến nơi đây. Thế nhưng, Sa Pa còn có những ngôi nhà cổ kính với kiến trúc Pháp cả trăm tuổi; có Vườn Hồng, Thác Bạc, Cầu Mây, Bãi đá cổ, bản Cát Cát… mang cảnh sắc thiên đường; có những bản làng người Mông luôn rộng mở chào đón bất cứ ai tìm đến nếp sống đặc trưng của dân tộc; có đỉnh Phansipan hùng vĩ – nóc nhà của Đông Dương là niềm khát khao của những bước chân chinh phục; có thung lũng Mường Hoa đẹp như mơ, như say trải dài bên sườn núi Hoàng Liên hùng vĩ; có phiên chợ tình đi vào huyền thoại. Thị trấn chìm trong mây trắng biến ảo lạ kỳ dù là xuân, hạ, thu, đông vẫn hút hồn du khách thập phương. Năm nay, bất thường xuân đến muộn với cả Bắc bộ, nên ra Giêng rồi mà Sa Pa vẫn ngập trong giá buốt. Những ngày trắng xóa trong triệu triệu bông hoa băng lấp lánh, thị trấn vẫn nườm nượp du khách kéo lên để một lần được nhìn thấy hiện tượng kỳ thú này. Sa Pa có đóng băng, có tuyết rơi nhưng mọi người đến đây không sợ lạnh bởi những đốm than hồng hơ ấm tay của cô gái quạt ngô, khoai bày khắp phố; những khách sạn, nhà nghỉ có hệ thống sưởi theo truyền thống dân tộc luôn ấm áp; và tình người nồng ấm, hiếu khách của người dân.

Từ Lào Cai, xuôi Quốc lộ 70 về Bắc Ngầm, qua xã Bảo Nhai là đến Bắc Hà. Giờ này Bắc Hà mới trắng hoa mận, hoa mơ, bởi cũng theo mùa đến muộn. Vùng đất được mệnh danh là “Cao nguyên trắng” khi xuân về khiến người ta phải lòng bởi phiên chợ đặc trưng vùng cao, bởi những bát thắng cố lạ miệng, bởi hương rượu Bản Phố thơm lừng, say đắm đuối; bởi nụ cười rạng rỡ, háo hức của chàng trai, cô gái, cụ già, em nhỏ như xua tan đi cái lạnh hoang hoải miền núi. Đúng là Tây Bắc đây rồi! Ngược dòng sông Chảy để ngắm cảnh Hang Tiên, thăm đền Trung Đô, rừng tự nhiên Cốc Ly với những cây gỗ quý hiếm hàng trăm năm tuổi độc nhất, là cái duyên của bất cứ ai đặt chân đến Bắc Hà. Bản Phố người Mông với nghề nấu rượu ngô và dệt thổ cẩm chắc chắn sẽ khiến du khách mê mải. Cùng hòa mình vào những vòng xòe và nhịp trống chuông trong ngày hội Lồng Tồng (Xuống Đồng), hội đua ngựa ở Tả Chải, Na Hối mừng xuân. Năm nay, ngành du lịch Lào Cai kết hợp với UBND huyện Bắc Hà liên tục mở hội tái hiện lại phục vụ du khách thập phương đến thưởng ngoạn, khám phá. Bắc Hà sáng chủ nhật là thời điểm rạng rỡ nhất, náo nhiệt nhất. Phiên chợ vùng cao là một bức tranh khổng lồ về sắc phục và hàng hóa. Vải vóc, quần áo thổ cẩm, nhạc cụ dân tộc; măng rừng, ngô, khoai, gạo, rau cỏ, hoa lá, dược thảo, gia súc, gia cầm, hàng thủ công… bày bán la liệt. Dãy hàng ăn với món thắng cố đặc trưng nghi ngút khói và nườm nượp người qua lại. Điều đặc biệt khi vào chợ Bắc Hà có thể nếm rượu ngô ngọt lử thoải mái đến say ngất ngư thì thôi, cho dù không mua vẫn nhận được nụ cười mến khách của người bán hàng. Hết phiên chợ mà bụng chưa no thắng cố, người chưa say rượu Bản Phố thì chưa phải là qua Bắc Hà.

Du xuân trên đất Lào Cai mọi người cũng không quên đem một chút gì đó của miền sơn cước về làm kỷ niệm. Thì đây, các cô, các chị có thể chọn cho mình những miếng thổ cẩm ở Sa Pa hoặc Bắc Hà. Thổ cẩm “xịn” phải do chính tay phụ nữ dân tộc thêu tay mất vài tuần, đường nét hơi thô, tối nhưng màu sắc rất hài hòa. Chút quà là những món thảo dược quý như cam thảo, bạch truật, ngũ gia bì, đương quy, xuyên khung, đỗ trọng, bát mộc hương… thích nghi với khí hậu Sa Pa nên có nhiều, đã được sắp đủ thang, đủ vị cho người già, rất bổ và lành. Mật ong rừng, rượu táo mèo cũng là món quà quý đặc trưng của vùng đất Lào Cai dành cho du khách.

Lào Cai lúc nào cũng đắm say lòng người, ẩn chứa vẻ đẹp khơi gợi đam mê khám phá, nhất là trong những chuyến du Xuân lên vùng Tây Bắc năm nay

ĐẶC SẮC CHỢ PHIÊN BẮC HÀ

Lên Bắc Hà, du khách được chiêm ngưỡng phong cảnh hùng vĩ của vùng cao nguyên với núi cao, vực sâu, những thửa ruộng bậc thang xanh ngăn ngắt…

Thị trấn Bắc Hà được bao bọc bởi một vùng núi non bồng bềnh mây trắng. Phiên chợ Bắc Hà nhộn nhịp, đầy màu sắc với những quán thắng cố nghi ngút khói, những bát rượu ngô nồng nàn, trái mận Tam Hoa, mận Tả Van đỏ mọng thơm ngon, hấp dẫn …

Chợ phiên Bắc Hà họp vào ngày chủ nhật hằng tuần. Đây là nơi giao lưu, mua bán, trao đổi hàng hóa của đồng bào 14 dân tộc anh em sống ở thị trấn Bắc Hà và các huyện, tỉnh lân cận. Trai thanh gái lịch, ông già bà cả, trẻ con hẹn nhau đi chợ từ lúc trời còn tối, có người đi từ chiều hôm trước.

Người dân tộc mang đến chợ đủ thứ sản vật vùng cao: chè shan, hoa quả, mật ong, rượu, áo quần thổ cẩm, đồ trang sức bạc, hoa phong lan, cây giống, dắt theo những con ngựa, bò, lợn, khệ nệ vác những bao ngô, khoai. Trong chiếc gùi của người đi chợ bao giờ cũng có một bộ quần áo dân tộc mới nhất, đẹp nhất, đến gần chợ họ mới mặc vào, đeo lên cổ, lên tay những vòng những xuyến.

Dự án cải tạo và mở rộng chợ Văn hóa Bắc Hà đang được thực hiện, khiến một vùng lớn đất đá được đào bới, chợ phiên đành phải né sang bên. Điều đó chẳng hề ảnh hưởng gì đến những cuộc trao đổi nơi đây. Chợ Bắc Hà bày đủ thứ vật dụng cần thiết cho người dân tộc: cày, cuốc, xẻng, dao. Khu vực bán đồ thổ cẩm, áo quần, đồ trang sức bạc, vải vóc, len, chỉ màu là nơi quyến rũ nhất đối với phụ nữ các dân tộc nơi đây. Bán xong những nắm gừng, gùi mận, gùi ngô mang từ nhà đi, thế nào các mế các bá cũng sà vào những gian hàng này, ồ à một lúc với những tấm thổ cẩm lộng lẫy, rồi mua một ít chỉ màu, khuy tết mang về.

Rộng lớn nhất và cũng náo nhiệt nhất là khu bán gia súc. Người ta dẫn ngựa đi đi lại lại để xem dáng, nhìn chân, vỗ mông rồi mặc cả.

Chợ phiên Bắc Hà mang đậm nét sinh hoạt cộng đồng của người dân tộc vùng cao Tây Bắc, lưu giữ những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo. Nơi đây, những điệu khèn, điệu xòe cùng tiếng hát lãng mạn mà da diết, vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, những con người chất phác mà bí ẩn luôn vẫy gọi du khách.

ĐI CHỢ MƯỜNG HUM

Chỉ trong vài giờ, thung lũng hẻo lánh Mường Hum, Lào Cai, đã thành một nơi náo nhiệt, điểm hội tụ của nhiều nền văn hóa và ẩm thực của bà con dân tộc thiểu số.

Chợ Mường Hum họp vào ngày chủ nhật, từ 7h sáng đến 1h chiều. Du khách có thể đi từ Lào Cai đến Mường Hum bằng xe khách giá 20.000 đồng, hay xe ôm giá 70.000 đồng.

Người ta đựng hàng hóa trong các túi thêu, túi sợi gai, bao tải và các sọt đeo trên vai. Những đôi dép lê dính đầy bùn, những gấu quần được xắn lên nhiều vòng cho thấy những chặng đường dài vất vả trèo đèo lội suối mà họ trải qua.

Tại chợ, những chiếc áo dài màu hồng, màu xanh của các cô gái Thái túm tụm xung quanh đồ trang sức thủ công bằng bạc. Ở góc khác là những chiếc váy H’Mông màu cam và màu xanh xúm xít quanh đống quả lựu.

Ngay bên cạnh, măng tre được bày la liệt trên lá chuối, và các thầy lang Hà Nhì giải thích về công dụng của các loại bột thuốc thực vật mà họ lượm lặt được từ rừng. Đi sâu vào trong chợ, một đám trẻ con xì xụp bên bát phở, bánh phở vẫn còn rất tươi vì mới được thái chỉ vài tiếng trước đó.

Có một điều thú vị là mỗi khi mua bán xong, tiền lại được rút ra từ những nơi rất kỳ quặc như phía dưới quần, trên cánh tay áo, túi bên cạnh của cái ví được bày bán, hay là vùi trong đống hạt đậu khô. Ở khu chợ này, đâu đâu cũng thấy người ta mua bán, hoạt động náo nhiệt và tràn đầy màu sắc.

Nếu ghé một nhà hàng ở Mường Hum, du khách sẽ được thưởng thức món thịt ngựa xào với hành, chén lòng lợn ăn với lá bạc hà, đừng quên dùng kèm với rượu hoặc bia tươi Lào Cai.

Đối với bà con dân tộc vùng Tây Bắc, đi chợ không chỉ để mua bán. Chợ phiên còn là nơi thư giãn, hẹn hò của nhiều nam thanh nữ tú. Người ta đến đây để ngắm và để được mọi người chiêm ngưỡng. Các thiếu nữ Dao ăn mặc thật đẹp và rất cầu kỳ: khăn đội đầu màu đỏ, gấp nếp xuống tận tai.

Những chiếc váy dài của dân tộc Hà Nhì màu đen được thêu hoa văn màu xanh, mới tinh và sắc sảo. Từ tuần trước đó, những phụ nữ H’Mông đã mất cả ngày để xâu những hạt nhựa vào dây cước và quấn xung quanh đầu trông như chiếc vương miện.

Tàn chợ, bạn còn bắt gặp hình ảnh những thiếu phụ H’Mông đi bộ dắt ngựa đèo ông chồng say ngất ngưởng, những em bé nói tiếng Anh thành thạo dù chưa một lần đến trường dạy ngoại ngữ…

Hà Phương (Theo Sài Gòn Giải Phóng – VnExpess)

Vị trí: Thị trấn Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm: Chợ Sa Pa là chợ của người H’Mông, người Dao được họp vào tối thứ bảy hàng tuần.

Chợ Sa Pa là một hoạt động kinh tế văn hóa rất độc đáo, đây là nơi trao đổi mua bán nhiều loại hàng hóa, sản phẩm địa phương, đồng thời là dịp cho bà con vùng cao đi chợ phiên và thanh niên nam nữ các dân tộc hẹn hò gặp gỡ, ca hát giao duyên để tìm hiểu bạn đời qua khúc hát tỏ tình, qua tiếng sáo, tiếng khèn, đàn môi…

http://www.vietnamtourism.com/

CHỢ PHIÊN SÍN CHÉNG

Chợ Sín Chéng nằm ở trung tâm xã Sín Chéng, cách huyện lỵ Si Ma Cai khoảng 10 km, họp vào thứ tư hàng tuần. Vì nằm ở một xã khá xa trung tâm huyện, nên chợ Sín Chéng ít bị các yếu tố của nền văn hoá công nghiệp làm mờ đi những nét đặc trưng của chợ vùng cao.

Chợ Sín Chéng nằm ở trung tâm xã Sín Chéng, cách huyện lỵ Si Ma Cai khoảng 10 km, họp vào thứ tư hàng tuần. Vì nằm ở một xã khá xa trung tâm huyện, nên chợ Sín Chéng ít bị các yếu tố của nền văn hoá công nghiệp làm mờ đi những nét đặc trưng của chợ vùng cao. Chợ là nơi hội tụ của nhiều đồng bào dân tộc: Mông, Nùng, Tày, Thu Lao… đến giao lưu, trao đổi, buôn bán.

Chợ Sín Chéng không lớn và quy mô như chợ Bắc Hà, nhưng chủng loại các mặt hàng có thể nói không hề thua kém. Những loại rau xanh, củ, quả… xứ lạnh được đồng bào trồng trên nương rẫy đảm bảo chất lượng sạch. Riêng gừng và ớt tươi, ớt khô thì ở đây không bao giờ thiếu. Cải mèo, cải cúc và rau đậu Hà Lan là loại rau ngon. Ghé thăm hàng bán thịt, bạn có thể mua thịt lợn đen ngay tại chợ. Đây là loại thịt lợn thơm ngon vì không nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Nếu là thực khách sành ăn và quen, bạn cũng có thể tìm mua thịt lợn sấy và thịt trâu sấy. Đến chợ Sín Chéng, bạn có thể mua gà đen và lợn cắp nách là những mặt hàng đặc sản của vùng cao. Đến hàng ăn, không thể bỏ qua nồi thắng cố và bát phở đặc trưng của người dân tộc nơi đây. Dù trời lạnh, ăn xong bát phở thấy ấm hẳn người, thấy vị cay nóng của ớt vùng cao, vị thơm nồng của hạt tiêu, vị chua của chanh yên và cái nóng nghi ngút vừa múc trong nồi của nước dùng. Nếu ngẫu hứng, làm thêm vài chén rượu ngô, sẽ có cảm giác lâng lâng…

Chợ Sín Chéng tầm ban trưa là lúc đông nhất. Nhìn từ xa, chỉ thấy màu đỏ váy, áo những cô gái Mông, màu xanh của trang phục người Nùng và nhiều màu sắc khác của hàng hoá. Chợ là nơi tìm bạn, kết bạn; nơi hò hẹn lứa đôi; nơi các cô gái Mông khoe bộ váy mới vừa thêu; chàng trai thể hiện điệu múa khèn tình tứ; những cụ già ngồi nhâm nhi chén rượu; những cô, những bà vừa bán hàng, vừa thêu thổ cẩm bằng đôi bàn tay in dấu thời gian… Chợ là nơi giao lưu giữa các dân tộc với nhau, cũng là nơi giao thoa của nhiều vùng, miền văn hoá. Chợ Sín Chéng còn giữ được rất nhiều nét bản sắc độc đáo mà bất kỳ nhà nghiên cứu văn hoá nào nếu chỉ đọc qua sách vở cũng không thể tìm thấy hết được.

Đến chợ phiên Sín Chéng cho ta niềm tin vào sự bền vững của những giá trị văn hoá.

Theo laocai.gov.vn

CHỢ PHIÊN CÁN CẤU

Vị trí: Chợ phiên Cán Cấu thuộc địa phận xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai; cách Tp. Lào Cai gần 100km về phía đông bắc, cách thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai gần 30km về phía bắc.

Từ Tp. Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua thị trấn Bắc Hà, du khách sẽ đến với chợ phiên Cán Cấu.

Nhìn từ xa, khung cảnh chợ phiên Cán Cấu thật đẹp và sinh động. Chợ họp ngay ven đường 153 – con đường đất đỏ duy nhất nối thị trấn Bắc Hà với thị trấn biên ải Si Ma Cai; xung quanh chợ là những thửa ruộng bậc thang tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau bám vào sườn núi; phía xa xa, núi rừng tây bắc hùng vĩ, trùng trùng, điệp điệp ngút tầm mắt…

Khi vào phiên chợ, từ tờ mờ sáng, từng dòng người Mông Hoa, Giáy từ các bản làng, lũ lượt kéo về chợ: người đi bộ, người đi ngựa mang theo các sản phẩm dệt may, nông sản và gia súc…

Bên cạnh đó, khu vực dành cho các món ăn truyền thống của người dân tộc cũng khá sôi động. Hòa trong làn khói nghi ngút bốc lên từ những căn lều tranh lụp xụp, là vô số các âm thanh khác nhau: tiếng nói chuyện ầm ì, tiếng bát đũa va vào nhau tanh tách và trong không khí náo nhiệt đó, du khách sẽ phải dừng chân, ngồi xuống và cùng người dân tộc thưởng thức các món ẩm thực của họ. Trong tất cả các món ở đây, món thắng cố có lẽ được người dân tộc yêu thích nhất. Đây là món pha trộn tất cả các loại nội tạng của một số con vật như: lợn, bò, trâu…

http://www.vietnamtourism.com/

CHỢ PHIÊN BẮC HÀ

chợ. Trước đây, chợ Bắc Hà họp trên một quả đồi thoai thoải, sau này chợ được xây mới trên nền bê tông và được chia ra từng khu vực bán hàng nên đã phần nào mất đi vẻ đẹp nguyên sơ. Chợ Bắc Hà là nơi bày bán đủ mọi sản vật của vùng cao, những vật dụng cần thiết cho người dân tộc: cày, cuốc, xẻng, dao các loại rau, hoa quả, mật ong.

Nhưng thu hút phụ nữ dân tộc và khách du lịch nhiều nhất chính là khu bán các đồ trang sức, váy, áo, vải thổ cẩm và cả những chiếc gùi bằng mây duyên dáng. Tại đây, bạn có thể tùy ý lựa chọn những sản phẩm thổ cẩm, hoa mắt với những sắc màu rực rỡ của váy áo các thiếu nữ dân tộc Mông, Dao đỏ. Khách du lịch nước ngoài thường trầm trồ trước những bức tranh được dệt thủ công với những họa tiết sinh động, màu sắc hài hòa và đẹp mắt.

Đối với đàn ông vùng cao thì chợ cũng là nơi để một tuần họ có thể gặp gỡ cùng uống rượu bên chảo thắng cố. Thắng cố không lúc nào vơi trong chảo cũng như rượu không lúc nào cạn trong bình. Rượu đặc sản của người Mông bản Phố, được nhiều người biết đến bởi độ nặng và vị gắt rất đặc trưng. Khu bán ngựa là nơi thu hút nhiều đàn ông nhất, họ đến từ các bản làng xa xôi, thậm chí cả những người từ các tỉnh Bắc Giang, Hà Tây… cũng lên đây để buôn ngựa về xuôi.

Trong tiếng ồn ào mua bán, nghe đâu đó tiếng khèn và tiếng hát lúc trầm lúc bổng của các chàng trai trẻ như mời gọi các cô gái. Khách du lịch đến Bắc Hà, nhất là khách nước ngoài, rất thích thú với những khám phá mới về cuộc sống, phong tục của người dân nơi đây.

Trong xu hướng bị thương mại hóa các chợ vùng cao hiện nay thì Bắc Hà là một trong những nơi hiếm hoi còn giữ được bản sắc dân tộc, nét riêng độc đáo của các phiên chợ xưa. Đến Bắc Hà, bạn sẽ không gặp cảnh mời chào chèo kéo mua hàng, mà chỉ thấy những gương mặt thuần phác trong bộ quần áo dân tộc sặc sỡ, họ đến chợ ngoài mục đích mua bán còn là để vui với chợ, vui với khách đi chợ. Chiều đến, chợ bắt đầu vãn khách; người đàn ông say rượu ngồi ngất ngưỡng trên lưng ngựa, người phụ nữ dắt ngựa về bản là một hình ảnh đọng lại trong tâm trí du khách.

http://www.vietnamtourism.com/

CHỢ PHA LONG

Náo nhiệt, ồn ào và bắt mắt nhất là nơi bán hàng thổ cẩm. Xuống chợ, ai cũng muốn chọn cho mình những bộ váy áo đẹp nhất, vì thế chị em chọn lựa, ướm thử rất kỹ càng. Bên hàng ăn, người ta dễ bị choáng ngợp bởi hương vị quyến rũ của một số loại ẩm thực như: chảo thắng cố từ thịt trâu, thịt ngựa, thịt bò… của người Mông, hơi men cay nồng của thứ rượu đặc sắc: rượu Cốc Ngù của người Pa Dí, được vắt ra từ những hạt ngô của miền biên ải… Tuy nhiên, có lẽ tĩnh lặng nhất vẫn là dãy hàng thịt, tất cả đều là thịt lợn đen – loại lợn ngon nổi tiếng ở Mường Khương.

Phiên chợ Pha Long còn nổi tiếng với lễ hội Gầu Tào mỗi khi Tết đến, xuân về. Lễ hội Gầu Tào (hay còn gọi là Sải Sán), có nghĩa là hội leo núi, bắt đầu từ ngày mồng 3 đến mồng 6 âm lịch. Đồng bào dân tộc ở các vùng xung quanh, ở Bắc Hà, ở Sa Pa, thậm chí từ Mù Căng Chải của Yên Bái và cả bên Trung Quốc cũng đổ về Pha Long. Bắt đầu lễ hội, có một thầy cúng làm những thủ tục cúng lễ xung quanh hai cây tre được treo rượu, thịt; sau đó, ở vòng trong là các cụ già hát những bài ca ngợi tổ tiên, ông bà cha mẹ, kể những câu chuyện cổ tích; ở bên ngoài là thanh niên nam nữ hát đối với nhau, múa khèn, múa gậy tiền… Lễ hội còn sôi động bởi những trò chơi như: đua ngựa, chọi chim, chơi cù, đánh cầu… Đến chập tối, mọi người lại ngồi quây quần bên bếp lửa và ca hát suốt đêm.

Màu sắc sặc sỡ, đa dạng của trang phục các dân tộc hòa với màu xanh của núi rừng Tây Bắc cũng gây một ấn tượng đặc biệt với những ai đã từng một lần đến với chợ Pha Long. Xuống chợ gần như là một tập tục, thói quen và đã trở thành nét đẹp trong sinh hoạt của đồng bào dân tộc vùng cao.

http://www.vietnamtourism.com/

CHỢ MƯỜNG HUM

Chợ Mường Hum nằm dưới thung lũng nhỏ, kề bên là suối nước trong vắt, xung quanh là những dãy núi cao ngất trùng mây. Cái chợ phiên cuối tuần ven suối Mường Hum này là nơi gặp gỡ, giao lưu, mua bán và vui chơi của bà con các dân tộc Hà Nhì, H’Mông, Hoa, Giáy, Dao Ðỏ, Dao Tuyển, Hán…

Ngày thường, ai đến đây cũng thích ngắm cảnh Mường Hum sơn thuỷ hữu tình, còn vào ngày chợ phiên cảnh bắt mắt du khách nhất là đoạn suối ven chợ. Bên bờ suối, bầy ngựa đợi chủ vào chợ tập trung bên suối với đủ sắc lông, thỉnh thoảng chúng cất tiếng hí vang khiến bức tranh sơn cước càng thêm sinh động, rất hiếm thấy ở nơi khác. Những chiếc cầu treo hay cầu đá bắc qua suối lúc nào cũng có người dắt ngựa qua lại…

http://www.vietnamtourism.com/

CHỢ LÙNG PHÌNH

Vị trí: Chợ Lùng Phình thuộc địa phận xã Lùng Phình, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai khoảng 70km.

Đặc điểm: Đến đây, du khách sẽ có dịp được tận hưởng sự giao thoa bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong vùng đất này.

Từ Tp. Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua thị trấn Bắc Hà khoảng 10km, du khách sẽ đến với Lùng Phình.

Lùng Phình – một địa danh hình thành từ rất lâu đời, nằm trong một vùng thung lũng có hình lòng chảo mà bao quanh là đồi núi trùng điệp ngút tầm mắt. Theo tiếng quan hỏa – thứ ngôn ngữ chung của một số tộc người trên dải biên cương phía bắc, Lùng Phình có nghĩa là Rồng Bằng.

Chợ Lùng Phình họp vào ngày chủ nhật hàng tuần, ngay bên cạnh con đường 153 – con đường độc đạo nối thị trấn Bắc Hà với thị trấn biên ải Si Ma Cai (huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai).

Nhìn từ xa, khung cảnh phiên chợ Lùng Phình thật đẹp và sinh động. Ngay từ sáng sớm, khi núi rừng vùng thung lũng vẫn còn đậm hơi sương, từng đoàn người Mông, Hoa, Giáy, Tày, Phù Lá… trong trang phục đặc trưng của dân tộc mình từ các bản làng nô nức kéo nhau về chợ: người đi bộ, người đi ngựa mang theo các sản phẩm dệt may, nông sản và gia súc…

Chợ được chia thành các khu riêng biệt: Khu ẩm thực; khu rượu dân tộc; khu gia súc, gia cầm và khu bao gồm các loại rau, thảo quả, sản phẩm thổ cẩm cùng các mặt hàng khác.

Cách khu ẩm thực khoảng vài trăm mét là khu bày bán các loại rượu do đồng bào dân tộc chế biến; trong đó nổi tiếng nhất là rượu ngô Bản Phố. Từng can to, can nhỏ được người bán bày ra và người mua có thể thưởng thức hương vị của rượu trước khi mua mang về. Quả thật, hương vị của các loại rượu cũng ấm áp như tấm lòng người dân nơi đây, khiến du khách không dễ gì quên được dẫu đến đây chỉ có một lần…

Tuy nhiên, nổi bật nhất có lẽ lại là khu vực bán gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, lợn, dê, chó, ngựa, gà, vịt… Không khí trong khu vực này thật náo nhiệt; người mua, kẻ bán, đứng, ngồi rải rác và cùng thỏa thuận mua bán với nhau.

Đến với phiên chợ Lùng Phình là du khách có dịp được tận hưởng sự giao thoa bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong vùng đất này. Đặc biệt, du khách sẽ có dịp được tham dự ngày hội giao duyên của các nam thanh nữ tú từ các bản làng gần xa trong vùng.

http://www.vietnamtourism.com/

Vị trí: Chợ Cốc Ly thuộc xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm: Đến đây, du khách sẽ có dịp được biết thêm về đời sống sinh hoạt thường ngày của người dân vùng tây bắc vừa có dịp được thưởng thức những món ăn đặc sản của họ.

Từ Tp. Lào Cai, theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, du khách sẽ đến cầu Bảo Nhai, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Từ đây, xuôi theo dòng sông Chảy khoảng 10km bằng thuyền, du khách sẽ đến chợ Cốc Ly.

Chợ Cốc Ly là chợ của đồng bào dân tộc sống ở phía tây bắc huyện Bắc Hà. Chợ họp ngay bên cạnh chiếc cầu treo bắc qua sông Chảy. Mỗi tuần chợ chỉ họp một phiên vào ngày thứ ba.

Nhìn từ xa, chợ Cốc Ly giống như một bức tranh thủy mặc và rất sinh động: Dòng nước lững lờ trôi một cách nhẹ nhàng theo năm tháng, xung quanh là núi rừng Bắc Hà xanh mướt một màu thấp thoáng qua từng làn sương mỏng. Điểm tô cho khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp đó, từng tốp người Mông, Dao, Tày, Nùng… súng sính trong những bộ trang phục đặc trưng với hoa văn tinh tế từ khắp các bản làng trong vùng nô nức kéo nhau về chợ: người đi bộ, người đi ngựa mang theo các sản phẩm dệt may, nông sản và gia súc…

Tuy nhiên nổi bật nhất vẫn là khu bán gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, lợn, gà, chó, ngựa và mèo… Không khí trong khu vực này thật náo nhiệt, người mua, kẻ bán, đứng, ngồi rải rác và cùng thỏa thuận mua bán với nhau. Bên cạnh đó, khu dành cho những món ăn của người dân tộc cũng khá sôi động. Hòa trong làn khói nghi ngút bốc lên từ những hàng ăn, là vô số các âm thanh khác nhau: tiếng nói chuyện ầm ì, tiếng bát đũa va vào nhau tanh tách và trong không khí náo nhiệt đó, du khách sẽ phải dừng chân, ngồi xuống và cùng người dân tộc thưởng thức các món ẩm thực của họ.

Thực sự bị lôi cuốn và hấp dẫn hơn cả, có lẽ là khu dịch vụ chăm sóc khách hàng, đặc biệt dành cho các nam thanh nữ tú. Tại đây, du khách có thể chụp những bức ảnh cùng người thân hay bạn bè của mình để làm kỷ niệm hoặc ghé qua “phòng khám nha khoa” để trang điểm một chiếc răng vàng cho cái miệng thêm duyên dáng…

Theo tiếng địa phương, Cốc Ly có nghĩa là gốc Mận và nét đẹp của phiên chợ này không chỉ đơn thuần là mọi người đến đây để mua bán, trao đổi hàng hoá (dùng hàng để đổi lấy hàng) mà còn để du ngoạn, gặp gỡ lẫn nhau và cùng cất lên những câu hát giao duyên…

http://www.vietnamtourism.com/

Vị trí: Chợ Cao Sơn nằm trên địa phận xã Cao Sơn, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, cách Tp. Lào Cai khoảng 80km.

Đặc điểm: Đến đây, du khách sẽ có dịp được giao lưu, trò chuyện và tìm hiểu thêm về đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc sống ở 4 bản lớn nhất của huyện Mường Khương.

Chợ Cao Sơn là chợ của đồng bào dân tộc Mông, Phù Lá, Dao và Hán đen sinh sống ở 4 bản lớn nhất của huyện Mường Khương. Mỗi tuần chợ chỉ họp một phiên vào ngày thứ tư.

Khi vào phiên chợ, ngay từ sáng sớm, trên khắp mọi nẻo đường đã thấy người người từ các bản nối tiếp nhau về chợ. Họ đi thành từng đoàn, từng nhóm, từng cặp và có khi là từng người một. Người thì gùi hàng, người thì dùng ngựa để thồ hàng, người thì xuống chợ bằng xe máy, xe đạp… Váy áo xúng xính, những chiếc ô xoè ra như nấm trên đầu các thiếu nữ Mông, Dao… với những hoa văn tinh tế, màu sắc sặc sỡ, tạo nên bức tranh đầy sinh động và quyến rũ.

Chợ Cao Sơn như đẹp hơn bởi người, hàng hóa và phong cảnh thiên nhiên. Trong không gian bao la, mênh mông của núi rừng, mọi người thật nhỏ bé… Họ vô tư mua, bán, trao đổi hàng hóa lẫn nhau. Người mua gạo, người mua thổ cẩm, người mua rau, củ, quả, người thưởng thức một số món đặc sản vùng cao…

Cũng giống như một số phiên chợ vùng cao khác. Chợ Cao Sơn được chia thành nhiều khu:

Những mặt hàng mang đậm hương vị núi rừng như: các loại rau quả, thảo dược, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, rượu ngô, gạo nương, đồ dùng gia đình, trang sức… tập trung thành một khu, được sắp xếp đẹp mắt theo từng loại mặt hàng. Trong khung cảnh đa sắc màu ấy, nổi bật lên là dãy bày bán các mặt hàng thổ cẩm với những màu sắc sặc sỡ, họa tiết sinh động. Đây là những sản phẩm tinh tế thể hiện tài năng khéo léo từ việc ươm trồng lanh, ủ sợi, dệt vải, nhuộm đến thêu hoa của người phụ nữ Mông, phụ nữ Phù Lá và phụ nữ Dao.

Tuy nhiên gây sự chú ý nhất vẫn là khu bán gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, lợn, gà, chó, ngựa… Không khí trong khu vực này thật náo nhiệt, người mua, kẻ bán, đứng, ngồi rải rác và cùng thỏa thuận mua bán với nhau.

Cách đó vài trăm mét là khu dành cho các món ăn của người dân tộc. Đến đây, du khách sẽ dễ bị choáng ngợp bởi hương vị quyến rũ từ một số loại ẩm thực như: mùi thơm ngầy ngậy của chảo thắng cố từ thịt trâu, thịt ngựa và thịt bò… của người Mông, hơi men cay cay nồng nồng của một số loại rượu dân tộc như: rượu ngô Cốc Dâm, Cốc Ngù… Trong không khí náo nhiệt và hấp dẫn đó, du khách sẽ phải dừng chân, ngồi xuống và cùng người dân tộc thưởng thức ẩm thực của họ.

Đến với chợ phiên Cao Sơn là du khách có dịp tận hưởng sự giao thoa bản sắc văn hóa của một số dân tộc anh em sống ở bản làng ven sông Chảy, trên địa phận huyện Mường Khương. Bên cạnh đó, du khách còn có dịp du thuyền trên sông Chảy và thưởng ngoạn cảnh đẹp ở hai bên bờ sông.

http://www.vietnamtourism.com/

ĐỘC ĐÁO CHỢ PHIÊN SIMACAI – LÀO CAI

Si Ma Cai từ lâu đã được nhiều người biết đến với những phiên chợ ngựa, chợ trâu; đặc biệt và lý thú là chợ phiên Si Ma Cai. Chợ được họp vào chủ nhật hàng tuần.

Chợ Si Ma Cai – còn có tên gọi khác là chợ “Sí Mà Cái”, có nghĩa là “chợ ngựa mới”, nằm trên một triền đồi bên cạnh quốc lộ vào trung tâm huyện. Chợ thường họp từ rất sớm khi mặt đất vẫn còn hơi sương và trở nên đông đúc khi mặt trời đã đứng bóng. Ngay từ sớm, trên khắp các nẻo đường dẫn tới chợ, từng đoàn người trong những bộ trang phục rực rỡ hớn hở bước thật nhanh tới chợ. Trên những con đường đất, lẫn trong màn sương là tiếng nhạc ngựa rộn ràng thồ sản phẩm của dân bản làm ra để trao đổi tại phiên chợ. Đối với người dân miền xuôi đi chợ là để mua sắm, còn đối với người dân vùng cao thì đi chợ còn là để gặp nhau sau một tuần miệt mài làm việc. Khung cảnh đông đúc, nhộn nhịp của phiên chợ bắt đầu ngay từ con đường dẫn vào chợ. Từng đoàn người nườm nượp đổ về đông như đi hội. Cảnh mua và bán diễn ra không quá ồn ào và dường như người dân vùng cao không nói thách. Rất dễ nhận thấy sự niềm nở giữa người mua và người bán hiện rõ trên từng khuôn mặt rạng rỡ.

Vào sâu trong chợ là gian ẩm thực. Những chảo thắng cố bốc hơi nghi ngút, thơm lừng chào mời. Món thắng cố nóng hổi được nấu từ thịt trâu hoặc thịt ngựa. Người ta chủ yếu ăn thắng cố là để thưởng thức nước canh và cảm nhận vị ngọt dậy mùi thơm của thảo quả, hoa hồi. Khi đến chợ và thưởng thức món thắng cố không thể không có rượu. Rượu Si Ma Cai được nấu từ ngô sau khi đã qua công đoạn thuỷ phân ngô hạt, sau đó ủ lên men trong thời gian dài. Nhờ sự cầu kỳ mà rượu ngô được rót ra trong vắt, thơm nồng, lăn tăn bọt, như vậy mới là rượu ngon. Rượu ngô cũng là một đặc sản được bày bán rất nhiều trong phiên chợ. Du khách đến chợ Si Ma Cai mà chưa được ăn món thắng cố và uống rượu ngô thì chưa hẳn là đã đến Si Ma Cai để cảm nhận sự độc đáo và lý thú của phiên chợ này.

Bánh đúc cũng là một món ăn đặc biệt trong phiên chợ. Bánh làm từ bột đao hoặc bột ngô. Màu sắc của bánh đúc có thể trắng trong hoặc vàng tuỳ vào nguyên liệu để làm bánh là bột đao hoặc ngô. Trong những ngày nắng nóng, được ăn bánh đúc của người dân vùng cao với nước dưa chua, thêm gia vị tương ớt, đậu xị, rau mùi tàu thì càng ngon và có tác dụng giải khát, giải nhiệt rất tốt.

Khi vào gian thổ cẩm tràn đầy màu sắc bởi những bộ trang phục lỗng lẫy của dân tộc Mông được thêu bởi bàn tay khéo léo và tỉ mỉ của những người phụ nữ Mông với nhiều hoạ tiết hoa văn độc đáo. Tại gian hàng thổ cẩm, người mua, người xem tụ tập rất đông. Phần lớn là chị em phụ nữ dân tộc Mông. Ngoài ra còn thu hút nhiều khách du lịch…

Chợ phiên Si Ma Cai tấp nập và nhộn nhịp cho tới buổi chiều tà. Phiên chợ tan, mọi người hối hả thu dọn và trở về công việc thường ngày, vẫn không quên hẹn gặp lại tại phiên chợ sau.

Nguồn: website báo Lào Cai

BẢO THẮNG: TƯNG BỪNG LỄ HỘI GẦU TÀO

LCĐT – Trong không khí tưng bừng đón chào mùa Xuân mới, sáng 28/1 (mùng 3 Tết), tại thôn Tân Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng đã tổ chức lễ hội Gầu tào và hội thi văn hoá – thể thao các dân tộc thiểu số với sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số 8 xã, thị trấn.

Đến dự lễ hội có đồng chí Sùng Chúng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh.

Lễ hội Gầu tào được tổ chức để cộng đồng dân tộc Mông 8 xã, thị trấn cùng cầu chúc năm mới gặp nhiều may mắn, mùa màng bội thu, lúa chất đầy bồ, ngô treo đầy gác… Trong quá trình diễn ra lễ hội còn có cuộc thi văn hoá – văn nghệ, thi đấu các môn thể thao truyền thống như: kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy, chơi quay.

Lễ hội Gầu tào ở Phong Niên thực sự trở thành ngày hội đoàn kết các dân tộc, góp phần gìn giữ và phát triển văn hoá dân tộc Mông.

BÃI ĐÁ CỔ SAPA

Bãi đá cổ Sa Pa được nhà khảo cổ người Pháp gốc Nga Glubev của trường Viễn Đông Bắc Cổ phát hiện vào năm 1925. Bãi đá trải rộng 8km² với gần 200 khối đá có kích thước, hình khắc khác nhau như: tranh vẽ tả thực, hoa văn trang trí, hình người đang toả hào quang, hình người cách điệu và một số mô tuýp khác về hình người, hình kiểu bản đồ mô tả thung lũng Mường Hoa… Đặc biệt, có các tảng đá được khắc trên đó những khối chữ vuông giống với chữ Nôm Dao.

Các nhà khoa học giả thiết đó là hình bản đồ cổ của người Mông hoặc gần như là cuốn sách cổ giới thiệu về những trận đánh ngày xưa… Có rất nhiều cách giải mã khác nhau của các nhà khoa học khi đến nghiên cứu Bãi đá cổ Sa Pa. Tuy nhiên, tất cả những cách giải mã đó mới chỉ dừng lại ở giả thiết. Bãi đá cổ Sa Pa vẫn nằm đó ẩn dấu những bí ẩn của người cổ xưa, thách thức các nhà khoa học. Từ tháng 10/1994, Bãi đá cổ Sa Pa được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Hiện nay, di tích này đang được nhà nước đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

http://www.vietnamtourism.com/

BÁNH KHOẢI CỦA NGƯỜI NÙNG

Cập nhật ngày: 26/9/2007

Bánh khoải là món ăn vừa gắn liền với tín ngưỡng dân gian,vừa có thể dự trữ lâu ngày.

Món ăn này họ thường chế biến trong dịp tết tháng 2 âm lịch. Vào những ngày này các thôn bản sẽ tổ chức cấm bang, ngày 30/2 làm lễ cúng cấm rừng. Sau khi làm lễ cấm rừng, tất cả các gia đình không được hái rau xanh, không được chặt củi, cuốc đất…Những ngày tết này nhà nào cũng làm cỗ rượu thịt ăn uống nhiều dẫn đến ngấy thì bánh khoải chính là món ăn ưa thích của các gia đình, là loại thức ăn không gây ngán đối với người ăn trong những ngày tết.

Nguyên liệu chế biến món bánh khoải:

Để có được món bánh khoải, từ khâu chế biến đến khi nấu ăn được phải mất ít nhất 3 ngày. Lượng bánh làm nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mỗi gia đình, nhưng mỗi lần làm bánh có thể dùng trong thời gian rất lâu.

– Gạo tẻ: 1 sinh = 4 kg, (loại thơm ngon, dẻo như gạo tam mưu 63, lúa mộ…)

– Bỗng rượu: Mỗi lần nấu bánh khoải để dùng cần 1 bát con bỗng rượu

– Đường đỏ (tuỳ thuộc vào mỗi lần nấu, nấu 10 bát cho 3 muôi đường)

Cách làm món bánh khoải:

Sau khi chọn được loại gạo ngon, cho vào chậu nước dùng tay đảo qua nước rồi vớt ra luôn để khoảng 15 đến 20 phút cho ráo nước, làm như vậy khi cho vào giã bột sẽ không bị bay bụi

Khi gạo đã ráo nước cho vào cối đá giã, giã đến khi nào bột nhỏ, mịn đổ ra một cái mẹt, lấy nước lã vẩy một chút vào dùng tay đảo đều cho kỹ rồi cho lên đồ xôi. Không nên vẩy nhiều nước, khi đồ sẽ bị nhão, giã sẽ bị dính chày và cối.

* Dụng cụ đồ xôi bột:

Trong cộng đồng người Nùng hay một số người dân tộc khác, những năm trước đây, dụng cụ đồ xôi của họ thường được ghép bằng những tấm gỗ, nồi đáy là chảo gang, vỉ đặt trên nồi đáy được đan bằng những nan tre, vầu. Hiện nay, trong điều kiện kinh tế được cải thiện hơn rất nhiều, các dụng cụ trong sinh hoạt hàng ngày được mua sắm mới, bởi vậy dụng cụ đồ xôi của họ đồ bằng trõ xôi.

* Quy trình đồ bột làm bánh:

Đổ nước lã vào nồi đáy, lượng nước cách trõ xôi 15 – 20 cm để khi nước sôi sẽ không bị bắn lên bột. Đổ bột vào trõ, không được dùng tay nén bột xuống, nếu làm như vậy hơi khó thoát lên được và bột sẽ không chín đều. Khi các công việc chuẩn bị cho đồ xôi đã hoàn tất, đun lửa cháy to đều cho nước sôi nhanh bột được chín nhanh, chín đều. Đun đến khi nào thấy hơi trong trõ bốc ra nhiều, dùng đũa lấy một ít bột ra, dùng 2 ngón tay miết bột, nếu bột gạo dẻo và mầu của bột gạo trong đục thì bột đã chín.

Khi bột chín, bắc xuống đổ bột đó vào cối đá giã tiếp. Lượng bột mỗi lần giã chỉ được múc một lần và làm thành một viên, vì nếu múc làm hai lần thì khi viên thành bánh sẽ có vết của hai lần cho bột vào giã, như thế để sau 3 ngày bánh khô sẽ bị vỡ theo vết đó và không thành bánh. Yêu cầu khi giã phải giã thật nhanh, nếu để bột bị nguội thì bột giã sẽ không kỹ. Khi giã bánh cần có hai người, một người giã và một người vo bột ở đầu chày giã, để bột không dính vào cối và chày giã.

Mỗi mẻ giã xong cho ra một cái bàn được rửa sạch, dùng hai tay vừa ấn, vừa lăn vê bột cho bột gạo được quyện vào nhau mịn, nhẵn. Phải lăn bặn bánh cho thật kỹ, nếu không khoảng 3 ngày bánh khô cứng sẽ bị vỡ ra. Lăn và vê bánh đến khi nào thật nhẵn thì hơi ấn nhẹ cho viên bánh hơi bẹt một chút để sau này lúc thái bánh không bị lăn. Mỗi viên bánh đó có chiều dài khoảng từ 25 – 30 cm, đường kính 10 – 15 cm. Sau khi nặn được bánh xong để khoảng từ 3 ngày trở lên cho bánh được khô cứng thì có thể thái nấu ăn được. Nếu thái quá sớm khi bánh chưa cứng sẽ bị dẻo dính dao, vào mùa đông thì chỉ cần hai ngày là được. Nếu muốn món bánh khoải để được lâu, cho bánh khoải này vào một vại nước ngâm, bánh này cho vào nước ngâm sẽ không bị vỡ, không bị thiu hỏng có thể để bao lâu cũng được, lúc nào ăn thì chỉ cần rửa qua và thài cho vào nấu là được.

Cách làm rượu cái:

Chọn loại gạo nếp ngon, ngâm khoảng 3 – 4 tiếng cho vào đồ xôi chín đổ ra để nguội. Mem làm rượu, phải chọn loại mem tốt có chất lượng để đảm bảo độ thơm ngon của rượu cái. Men nghiền thành bột nhỏ trộn đều với xôi nếp, lấy lá lót vào cái thúng rồi cho xôi nếp đã trộn mem vào ủ rồi đậy lá lại. Sau khoảng 2 -3 ngày mem đã ngấm hết thành bỗng rượu có mùi thơm, sang ngày thứ 3 thấy rượu cái đã nhừ, chảy nước là đã có thể ăn được. Sau 3 ngày cho rượu cái vào một cái chum ủ tiếp bao lâu cũng được, khi nào cần dùng thì lấy ra.

Cách nấu món bánh khoải:

Món ăn này phải qua một quy trình nấu bánh nữa mới có thưởng thức được. Để làm được 10 bát bánh khoải, trước khi nấu lấy bánh khoải ra thái mỏng từ 3 – 4 li, mỗi sát bánh đó lại thái thành các thanh dài vương tương ứng với độ mỏng của sát bánh. Cho lượng nước khoảng 2 lít, đun nồi nước cho thật sôi, cho khoảng 3 lạng đường móng ngựa hoặc có thể dùng bằng đường phên, đường đỏ. Dùng đũa hoặc muôi dảo đều cho đường tan hết thì thêm 4 muôi rượu cái vào và đun sôi lại trong thời gian 3 – 5 phút thì cho bánh vào. Sau khi cho bánh vào đun đến khi nào sôi già thì món bánh đã chín và có thể dùng được. Lúc món bánh đang được đun sôi, từ trong nồi nấu bánh khoải mùi đường và mùi rượu cái bốc lên rất thơm lôi cuốn người ăn.

Vào những ngày tết tháng 2 của người Nùng, trên mâm rượu của các gia đình đều có món bánh này, mọi người vừa nhâm nhi chén rượu vừa thưởng thức món bánh khoải, cùng chuyện trò đến quên cả giờ giấc thông suốt cả ngày cũng được. Khi ăn, người thưởng thức sẽ thấy món bánh vừa dẻo, vừa có vị ngọt thơm của đường vừa có vị chua thơm của bỗng rượu cái khiến cho người ăn có cảm giác ngon miệng và ăn được nhiều hơn.

Ý nghĩa của món ăn:

Lưu truyền món ăn: